vanban.org

Bản án 46/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hữu T 08 năm 03 tháng tù ( tám năm ba tháng tù), thời gian chấp hành hình phạt được tính từ ngày tạm giữ 09/9/2025. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm a Khoản 1 Điều 46; Điểm a, c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu cho t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hữu T - Mua bán TPCMT - mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - HƯNG YÊN
Bản án số: 46/2026/HS-ST
Ngày: 13/3/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Mạnh Quang Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lương Văn Kế và ông Lương Đình Hiển

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thơm - Thư ký viên Tòa án nhân dân khu vực 1- Hưng Yên

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Quỳnh Mai - Kiểm sát viên

Ngày 13 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 1 - Hưng Yên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 22/2026/TLST-HS ngày 04 tháng 02 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2026/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2026 đối với bị cáo:

Nguyễn Hữu T, sinh năm 1998 tại xã HHT, tỉnh Hưng Yên; Nơi cư trú: Thôn MS, xã HHT, tỉnh Hưng Yên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; con ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị M; có vợ là Vũ Thị H và 02 con, lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ ngày 09/9/2025, bị tạm giam ngày 18/9/2025 tại Trại tạm giam số 1 - Công an tỉnh Hưng Yên “có mặt tại phiên tòa”

Người chứng kiến:

- Anh Nguyễn Khả A, sinh năm 1990; Địa chỉ: Thôn MV, xã HC, tỉnh Hưng Yên “vắng mặt”

- Anh Trần Văn B, sinh năm 1999“vắng mặt”

- Anh Trần Văn Q, sinh năm 1998“vắng mặt” Đều có địa chỉ tại: Thôn ĐX, xã TH, tỉnh Hưng Yên

- Anh Vũ Văn Hiền, sinh năm 1990; Địa chỉ: Thôn MS, xã HHT, tỉnh Hưng Yên “vắng mặt”

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do nghiện ma tuý đá, không có nghề nghiệp ổn định bị cáo Nguyễn Hữu T nẩy sinh ý định mua ma tuý về sử dụng và bán cho các đối tượng nghiện để kiếm lợi nhuận. Khoảng 09 giờ ngày 09/9/2025, bị cáo điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha exciter màu đen, biển số 30L4-1910 từ nhà đến chân cầu Hưng Hà thuộc địa phận xã Tân Hưng, tỉnh Hưng Yên tìm mua ma túy. Bị cáo thấy một người đàn ông không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể có biểu hiện nghiện ma túy nên lại gần hỏi mua 3.000.000 đồng ma túy đá và 1.000.000 đồng 30 viên hồng phiến thì người này đồng ý. Bị cáo đưa 4.000.000 đồng, người đàn ông nhận tiền đi đâu đó một lúc rồi quay lại chỉ vào chỗ chân cầu Hưng Hà cách chỗ bị cáo đứng khoảng 50 mét rồi bỏ đi. Bị cáo lại gần thấy 01 hộp nhựa quấn băng dính đen xung quanh, mở ra thấy bên trong có nhiều túi nilon chứa ma túy đá gồm 15 túi nilon kích thước (2x1)cm dạng tinh thể màu trắng; 02 túi nilon mỗi túi chứa 04 viên nén hình tròn màu đỏ; 03 túi nilon mỗi túi chứa 06 viên nén hình tròn màu đỏ và 02 túi nilon chứa 02 viên nén hình tròn màu đỏ. Bị cáo cầm hộp nhựa chứa ma túy để vào hộc bên trái xe mô tô đi về nhà. Trên đường đi, bị cáo dừng lại tại gốc cây bên đường lấy 02 viên hồng phiến ra sử dụng rồi về nhà nằm nghỉ.

Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, Nguyễn Khả A ở thôn MV, xã HC, tỉnh Hưng Yên sử dụng số thuê bao 037.238. 3698 gọi đến số thuê bao 085.380.8988 của bị cáo hỏi mua 500.000 đồng ma túy đá. Bị cáo đồng ý hẹn A đến sau trường Đại học Thủy Lợi thuộc địa phận xã HHT, tỉnh Hưng Yên giao ma túy. Bị cáo điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha exciter màu đen, biển số 30L4-1910 đến điểm hẹn. Do A không đủ 500.000 đồng mua ma túy xin nợ lại 100.000 đồng, bị cáo không đồng ý nên A không mua điều khiển xe mô tô bỏ đi. Khi bị cáo đang cầm một gói ma túy đá trong lòng bàn tay trái thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang, bị cáo đã vứt gói ma túy xuống đường. Tại chỗ, lực lượng công an thu giữ 01 túi nilon màu trắng kích thước (2x1)cm bên trong chứa chất tinh thể màu trắng thu tại mặt đường được niêm phong kí hiệu M1; 01 hộp nhựa dán băng dính màu đen bên trong có 21 túi nilon đều có kích thước (2x1)cm, trong đó có 14 túi nilon bên trong chứa chất tinh thể màu trắng; 02 túi nilon bên trong mỗi túi chứa 04 viên nén hình tròn màu đỏ; 03 túi nilon mỗi túi chứa 06 viên nén màu đỏ và 02 túi nilon có bám dính chất màu đỏ thu tại hốc để đồ phía trước bên trái xe mô tô của bị cáo được niêm phong kí hiệu M2; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha exciter màu đen, biển số 30L4-1910; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu đen. Cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hưng Yên tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của bị cáo ở thôn MS, xã HHT, tỉnh Hưng Yên nhưng không thu giữ được gì liên quan. Test nhanh ma túy đối với bị cáo cho kết quả dương tính với loại ma túy AMP, MET.

Tại Kết luận giám định số 1165/KL-KTHS ngày 12/9/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên kết luận: Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng trong niêm phong ghi kí hiệu M1 có khối lượng 0,394g là ma túy, loại Methamphetamine. Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng được kí hiệu M2-1 trong niêm phong kí hiệu M2 có khối lượng 3,953 gam là ma túy loại Methamphetamine. Mẫu chất màu đỏ và chất dạng viên nén màu đỏ được ghi kí hiệu M2-2 trong niêm phong kí hiệu M2 có khối lượng 2,707 gam là ma túy, loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Hữu T khai nhận toàn bộ số ma túy Cơ quan điều tra thu giữ khi bị bắt quả tang bị cáo mang đi bán với mục đích kiếm lời. Bị cáo bán cho Nguyễn Khả A là người đầu tiên, ngoài ra chưa bán cho đối tượng nào khác. Nguyễn Khả A khai nhận do chưa bao giờ sử dụng ma túy đá nên muốn tìm mua về sử dụng cho biết cảm giác, A đi đến bến xe tỉnh Hưng Yên để tìm mua ma túy thì được một người đàn ông làm nghề lái xe ôm không biết rõ tên tuổi, địa chỉ cho số thuê bao điện thoại 085.380.8988 giới thiệu đây là số thuê bao của Nguyễn Hữu T có ma túy đá bán.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Hữu T ngày 09/9/2025 tại địa phận xã HHT, tỉnh Hưng Yên do bị cáo không thuộc các trường hợp quy định tại Điều 256a Bộ luật Hình sự nên không có căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hưng Yên đã có Công văn số 139 ngày 05/01/2026 cùng tài liệu chuyển kèm đề nghị Cơ quan có thẩm quyền ra Quyết định xử phạt hành chính đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo.

Đối với người đàn ông làm nghề xe ôm tại bến xe tỉnh Hưng Yên cho Nguyễn Khả A số điện thoại của Nguyễn Hữu T do không xác định được tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ xác minh xử lý. Đối với người đàn ông bán ma túy cho Nguyễn Hữu T tại chân cầu Hưng Hà do không xác định được tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ xác minh làm rõ để xử lý. Đối với hành vi mua ma túy về sử dụng của Nguyễn Khả A do chưa mua được từ bị cáo nên không có căn cứ để xử lý.

Quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Hữu T thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi mua bán trái phép chất ma túy như đã nêu trên.

Tại bản cáo trạng số 87/CT-VKSKV1 ngày 02/02/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Hưng Yên đã truy tố bị cáo Nguyễn Hữu T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm i Khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay: Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng truy tố, tỏ thái độ ăn năn hối cải.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Hưng Yên luận tội và tranh luận: Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được Hội đồng xét xử thẩm tra công khai tại phiên tòa có đủ cơ sở kết luận bị cáo phạm tội mua bán trái phép chất ma túy. Do đó, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo từ 08 năm 03 tháng đến 08 năm 06 tháng tù, thời hạn được tính từ ngày tạm giữ 09/9/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm a Khoản 1 Điều 46; Điểm a, c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 1165/KL-KTHS có dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên và chữ kí của người liên quan bên trong có chứa 0,382 gam Methamphetamine trong niêm phong kí hiệu M1; 3,936 gam Methamphetamine được ghi kí hiệu M2-1 trong niêm phong kí hiệu M2; 2,677 gam Methamphetamine được ghi kí hiệu M2-2 trong niêm phong kí hiệu M2; các vỏ túi nilon đựng ma túy; 01 hộp nhựa và 02 vỏ niêm phong mẫu vật gửi giám định. Tịch thu hoá giá sung ngân sách nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exiter màu đen biển số 30L4- 1910; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 7Plus màu đen. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo tự bào chữa: Nhất trí với cáo trạng truy tố và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Hưng Yên xác định bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, tỏ thái độ ăn năn hối hận và đề nghị giảm nhẹ hình phạt .

Lời nói sau cùng của bị cáo: Đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an tỉnh Hưng Yên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Hưng Yên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về nội dung: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo được chứng minh bằng: Biên bản bắt người phạm tội quả tang được lập hồi 16 giờ 35 phút ngày 09/9/2025; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ lập hồi 17 giờ 31 phút ngày 09/9/2025; Kết luận giám định số 1165/KL-KTHS ngày 12/9/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hưng Yên kết luận: Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng trong niêm phong ghi kí hiệu M1, có khối lượng là 0,394g là ma túy, loại Methamphetamine. Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng được kí hiệu M2-1 trong niêm phong kí hiệu M2 có tổng khối lượng là 3,953 gam là ma túy loại Methamphetamine. Mẫu chất màu đỏ và chất dạng viên nén màu đỏ được ghi kí hiệu M2-2 trong niêm phong kí hiệu M2, có tổng khối lượng là 2,707 gam ma túy, loại Methamphetamine; bằng lời khai của người chứng kiến, vật chứng đã thu giữ cùng các tài liệu thu thập khác trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 16 giờ 35 phút ngày 09/9/2025 tại thôn AX, xã HHT, tỉnh Hưng Yên bị cáo Nguyễn Hữu T đã có hành vi mang 7,054 gam ma túy loại Methamphetamine đi để bán kiếm lời thì bị phát hiện bắt quả tang. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Hưng Yên truy tố bị cáo về tội danh, điều luật như đã nêu trên là đúng người, đúng tội, không oan sai.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

. Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, đã xâm phạm đến các quy định của nhà nước về quản lý chất ma túy, xâm phạm đến trật tự xã hội, gây khó khăn cho Nhà nước trong việc đẩy lùi các loại tội phạm về ma túy, là nguyên nhA phát sinh một số loại tội phạm khác. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, là đối tượng nghiện ma túy nên ý thức rõ tác hại của ma túy đối với thể lực và trí lực của con người, nhưng vì mục đích thu lợi bất chính đã bất chấp các quy định của pháp luật thực hiện tội phạm với lỗi cố ý. Vì vậy, cần xét xử vụ án nghiêm minh, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian cho tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội nhằm cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo làm nghề lao động tự do, thu nhập không ổn định, là đối tượng nghiện ma túy nên HĐXX quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt, hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp, có căn cứ chấp nhận.

. Về xử lý vật chứng: Đối với 01 phong bì niêm phong số 1165/KL-KTHS có dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên và chữ kí của người liên quan bên trong có chứa 0,382 gam Methamphetamine trong niêm phong kí hiệu M1; 3,936 gam Methamphetamine được ghi kí hiệu M2-1 trong niêm phong kí hiệu M2; 2,677 gam Methamphetamine được ghi kí hiệu M2-2 trong niêm phong kí hiệu M2 là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành; các vỏ túi nilon đựng ma túy; 01 hộp nhựa, 02 vỏ niêm phong mẫu vật gửi giám định không còn giá trị sử dụng nên tịch thu cho tiêu hủy. Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exiter màu đen biển số 30L4- 1910 và 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 7Plus màu đen là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu sung ngân sách nhà nước.

. Về án phí: Bị cáo bị kết tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

. Các vấn đề khác: Đối với người đàn ông làm nghề xe ôm tại bến xe tỉnh Hưng Yên cho Nguyễn Khắc A số điện thoại của bị cáo và người đàn ông bán ma túy cho bị cáo tại khu vực chân cầu Hưng Hà thuộc địa phận xã Tân Hưng, tỉnh Hưng Yên do không xác định được tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ xác minh làm rõ để xử lý. Đối với hành vi mua ma túy về để sử dụng của Nguyễn Khả A do chưa mua được ma túy từ bị cáo nên không có căn cứ để xử lý. Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Hữu T ngày 09/9/2025 tại địa phận xã HHT, tỉnh Hưng Yên do bị cáo không thuộc các trường hợp quy định tại Điều 256a Bộ luật Hình sự nên không có căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Sử dụng trái phép chất ma túy, Cơ quan cảnh sát điều tra đã có công văn cùng tài liệu kèm theo đề nghị Cơ quan có thẩm quyền ra Quyết định xử phạt hành chính là đúng quy định.

. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Hưng Yên xử lý vật chứng, nghĩa vụ chịu án phí đối với bị cáo là phù hợp và có căn cứ nên được HĐXX chấp nhận toàn bộ.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điểm i Khoản 2 Điều 251; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hữu T 08 năm 03 tháng tù ( tám năm ba tháng tù), thời gian chấp hành hình phạt được tính từ ngày tạm giữ 09/9/2025.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm a Khoản 1 Điều 46; Điểm a, c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 1165/KL-KTHS có dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên và chữ kí của người liên quan bên trong có chứa 0,382 gam Methamphetamine trong niêm phong kí hiệu M1; 3,936 gam Methamphetamine được ghi kí hiệu M2-1 trong niêm phong kí hiệu M2; 2,677 gam Methamphetamine được ghi kí hiệu M2-2 trong niêm phong kí hiệu M2; các vỏ túi nilon đựng ma túy; 01 hộp nhựa, 02 vỏ niêm phong mẫu vật gửi giám định. Tịch thu hoá giá sung ngân sách nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exiter màu đen biển số 30L4- 1910 và 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 7Plus màu đen (Số lượng, đặc điểm của vật chứng theo Quyết định chuyển vật chứng số 64/QĐ-VKSKV ngày 02/02/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Hưng Yên).

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Hữu T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai có mặt bị cáo. Báo cho bị cáo biết trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án được quyền kháng cáo lên Tòa án tỉnh Hưng Yên để xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Cỡ chữ