vanban.org

Bản án 46/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điều 28, 35, 39,147, 272, 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. 1. Về quan hệ hôn nhân: Ghi nhận nguyên đơn Nguyễn Thị Cúc T và bị đơn Trần Oanh N thuận tình ly hôn. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "hôn nhân gia đình"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 28, 35, 39,147, 272, 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 272 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 14 – CẦN THƠ
Bản án số: 46/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 11/02/2026.
V/v xin ly hôn.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14 - CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Nhân.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Trương.

2. Ông Võ Văn Trường.

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Hoàng Tuấn, thư ký Tòa án nhân dân khu vực 14 - Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14 - Cần Thơ tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Truyền - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 02 năm 2026 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 14 - Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 05/2026/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 01 năm 2026 về việc xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 01 năm 2026, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Cúc T, sinh năm 1999. (có mặt)

Địa chỉ: ấp Phước Lợi, xã Đông Phước, thành phố Cần Thơ.

- Bị đơn: Anh Trần Oanh N, sinh năm 1999. (có mặt)

Địa chỉ: ấp Phú Xuân, xã Châu Thành, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo ñôn khôûi kieän ngaøy 12/06/2025 vaø caùc lôøi khai trong quaù trình giaûi quyeát vuï aùn, cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyeân ñôn Nguyễn Thị Cúc T trình baøy:

Giữa nguyên đơn và bị đơn kết hôn vào năm 2019, có làm lễ cưới theo truyền thống và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, hôn nhân là do quen biết tự nguyện tiến tới hôn nhân. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2025 thì phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng trong tính tình, cách sống, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, đời sống chung vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Nguyên đơn yêu cầu giải quyết được ly hôn với bị đơn.

Quá trình chung sống nguyên đơn và bị đơn có một con chung, cháu Trần Ngọc Nhã Uyên, sinh ngày 10/3/2020, yêu cầu cho nguyên đơn được nuôi con chung. Không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung, nợ cho vay: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn Trần Oanh N trình bày: Bị đơn và nguyên đơn kết hôn vào năm 2019, có làm lễ cưới theo truyền thống và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, hôn nhân là do quen biết tự nguyện tiến tới hôn nhân. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2025 thì phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng trong tính tình, cách sống, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, đời sống chung vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, sống ly thân từ tháng 6 năm 2025 đến nay. Bị đơn đồng ý ly hôn với nguyên đơn.

Quá trình chung sống bị đơn và nguyên đơn có một con chung, cháu Trần Ngọc Nhã U, sinh ngày 10/3/2020 hiện cháu đang sống với bị đơn, yêu cầu cho cho bị đơn được nuôi con chung. Không yêu cầu nguyên đơn cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung, nợ cho vay: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14 – Cần Thơ tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Việc chấp hành tố tụng của đương sự theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ghi nhận thuận tình ly hôn giữa nguyên đơn và bị đơn. Về con chung giao con chung cho bị đơn trực tiếp nuôi dưỡng, nguyên đơn chưa phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung, nợ cho vay đề nghị Hội đồng xét xử chưa xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả việc hỏi, tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng và quan hệ pháp luật: Nguyên đơn khởi kiện về việc xin ly hôn với bị đơn nên đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình, căn cứ Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xác định đây là vụ án về việc xin ly hôn và nuôi con. Bị đơn có nơi cư trú tại ấp Phú Xuân, xã Châu Thành, thành phố Cần Thơ, căn cứ Điều 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xác định yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đúng trình tự thủ tục, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 14 – Cần Thơ nên được xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về quan hệ hôn nhân: Giữa nguyên đơn Nguyễn Thị Cúc T và bị đơn Trần Oanh N tự nguyện tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới theo truyền thống và có đến Ủy ban nhân dân thị trấn Mái Dầm, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang (nay là xã Châu Thành, thành phố Cần Thơ), đăng ký kết hôn vào năm 2020, theo quy định của luật Hôn nhân và gia đình, nên quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn là hợp pháp. Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng ý kiến trong cuộc sống về tính tình và cách sống, nguyên đơn và bị đơn đã cho nhau cơ hội nhưng không thể hàn gắn được với nhau. Nguyên đơn và bị đơn sống ly thân từ tháng 6 năm 2025 đến nay, vợ chồng tự ai nấy sống. Chứng tỏ quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Bị đơn cũng đồng ý ly hôn với nguyên đơn. Nên yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về việc ghi nhận thuận tình ly hôn giữa nguyên đơn và bị đơn, là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về con chung quá trình chung sống có một con chung cháu Trần Ngọc Nhã U, giới tính: nữ, sinh ngày 10/3/2020. Nguyên đơn khai rằng con đang sống với nguyên đơn nhưng thực tế con không có chung sống với nguyên đơn, nguyên đơn hiện đang đi làm ở Củ Chi, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng con chưa đảm bảo. Lời khai của bà Phan Thị Trúc L mẹ ruột của nguyên đơn khai cháu Trần Ngọc Nhã U không có chung sống với nguyên đơn, mà chung sống với bị đơn từ nhỏ đến nay, bà L đến rước cháu U thì bị đơn và gia đình bị đơn không có ngăn cản, từ lúc nguyên đơn ly thân bỏ đi không có về nhà bị đơn để thăm con. Lời khai của ông Trần Thanh H và bà Nguyễn Thị T là cha mẹ ruột của bị đơn, khai cháu U sống với bị đơn và gia đình bị đơn từ nhỏ cho đến nay, cũng không có ngăn cản nguyên đơn thăm con và cho bà L là mẹ ruột của nguyên đơn rước con bình thường. Từ những phân tích trên thấy rằng cháu Trần Ngọc Nhã U đang sinh sống ổn định với bị đơn, để đảm bảo ổn định cuộc sống và tránh xáo trộn cuộc sống của cháu U. Hội đồng xét xử giao con chung cho bị đơn Trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nguyên đơn chưa phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung, nợ cho vay không yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, quyền kháng cáo các đương sự thực hiện theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng: Điều 28, 35, 39,147, 272, 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015

Điều 55, 81, 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

- Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Ghi nhận nguyên đơn Nguyễn Thị Cúc T và bị đơn Trần Oanh N thuận tình ly hôn.

1.2. Về con chung: Giao con chung cháu Trần Ngọc Nhã U, giới tính: Nữ, sinh ngày 10/3/2020, cho Trần Oanh N trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi tròn 18 tuổi. Nguyên đơn Nguyễn Thị Cúc T chưa phải cấp dưỡng nuôi con.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích, của con chung, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con..

1.3. Về tài sản chung, nợ chung, nợ cho vay chưa xem xét giải quyết.

2. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn Nguyễn Thị Cúc T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000059 ngày 05/01/2026 của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 14, thành phố Cần Thơ, thành án phí nguyên đơn không phải nộp thêm.

3. Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

4. Trong trường hợp Bản án, Quyết định của Tòa án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự - thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./. Nôi nhaän:

Cỡ chữ