vanban.org

Bản án 46/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử ly hôn giữa chị Phạm Thị L và anh Nguyễn Văn H.

Về con chung: Xử giao con chung là cháu Nguyễn Phạm Minh K sinh ngày 26/7/2022 cho anh Nguyễn Văn H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Chị Phạm Thị L không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh H. Không ai được ngăn cản quyền chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng và thăm nom con chung. Án phí dân sự … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị L - Nguyễn Văn H"
  • Tòa quyết gì? Xử ly hôn giữa chị Phạm Thị L và anh Nguyễn Văn H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 11 - NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2026/HNGĐ - ST
Ngày: 27 - 01 - 2026
V/v: Tranh chấp ly hôn, con chung.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Trọng Ích

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Vũ Mạnh Toàn

2. Bà Dương Thị Vui

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thu Hiền - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 11 - Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Ninh Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Long - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 11 - Ninh Bình mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 258/2025/TLST - HNGĐ ngày 21 tháng 11 năm 2025 về vụ án kiện xin ly hôn và giải quyết con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2026/QĐXXST-TCDS ngày 09 tháng 01 năm 2026 giữa:

* Nguyên đơn: Chị Phạm Thị L, sinh năm 1995; Địa chỉ: Xóm B N, xã Q, tỉnh Ninh Bình. (địa chỉ cũ xóm B xã N, huyện N, tỉnh Nam Định).

* Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1991; Địa chỉ: Xóm B N, xã Q, tỉnh Ninh Bình. (địa chỉ cũ xóm B xã N, huyện N, tỉnh Nam Định).

Tại phiên tòa vắng mặt chị L, anh H.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại phiên tòa hôm nay chị Phạm Thị L vắng mặt, trong đơn khởi kiện và lời khai của chị L tại các buổi làm việc với Toà án thể hiện: Chị kết hôn với anh Nguyễn Văn H vào tháng 12/2021 trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Nam Định (nay là xã Q, tỉnh Ninh Bình). Sau khi được cấp đăng ký kết hôn vợ chồng về chung sống hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan sống không có tiếng nói chung vợ chồng thương xuyên cãi chửi nhau, gia đình hai bên khuyên giải nhiều lần nhưng không thành. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh H không còn, vợ chồng chung sống không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, chị đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Văn H.

Về con chung: Chị Phạm Thị L xác định vợ chồng chị và anh H có 01 con chung là cháu Nguyễn Phạm Minh K, sinh ngày 26/07/2022 hiện đầu tuần cháu ở với mẹ, cuối tuần về ở với bố. Vợ chồng ly hôn chị L đề nghị nếu anh H nhận trực tiếp nuôi con chung chị cũng nhất trí, nếu anh H không nhận nuôi chị xin được trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu anh H phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.

Về tài sản chung: Chị Phạm Thị L xác định vợ chồng không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm chị Phạm Thị L đề nghị giải quyết theo quy định.

Tại phiên toà hôm nay anh Nguyễn Văn H vắng mặt. Nội dung bản tự khai và các buổi làm việc với Tòa án anh H thể hiện: Anh và chị Phạm Thị L kết hôn với nhau vào năm 2021, kết hôn tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc không có mâu thuẫn gì lớn. Tháng 7/2025 do mâu thuẫn nhỏ chị L đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ, anh có đi tìm nhưng chị L không về. Nay chị L đề nghị ly hôn thì anh không muốn vợ chồng ly hôn.

Về con chung: Anh Nguyễn Văn H xác nhận vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Phạm Minh K, sinh ngày 26/07/2022 vợ chồng ly hôn anh xin nhận trực tiếp nuôi con chung chị không yêu cầu chị L phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh.

Về tài sản chung anh Nguyễn Văn H không đề nghị Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà phát biểu ý kiến:

+ Về tố tụng: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến xét xử tại phiên toà hôm nay Thẩm phán thụ lý giải quyết cũng như Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình: cho ly hôn giữa chị Phạm Thị L và anh Nguyễn Văn H; Giao cháu Nguyễn Phạm Minh K cho anh Nguyễn Văn H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, chị Phạm Thị L không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cho anh H; Ngoài ra các đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào lời trình bày của đương sự và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Anh Nguyễn Văn H và chị Phạm Thị L đều đăng ký hộ khẩu thường trú và hiện đang cư trú tại xã N, huyện N, tỉnh Nam Định (nay là xã Q, tỉnh Ninh Bình). Chị L có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 11 - Ninh Bình thụ lý giải quyết vụ án chị xin ly hôn anh H và được Tòa án thụ lý giải quyết là phù hợp với quy định tại Điều 28; Điều 35; Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự và Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tại phiên tòa hôm nay chị Phạm Thị L và anh Nguyễn Văn H đều vắng mặt, chị L và anh H đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy Tòa án xét xử vắng mặt chị L và anh H là có căn cứ và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về nội dung: Cuộc hôn nhân giữa chị Phạm Thị L và anh Nguyễn Văn H vào tháng 12 năm 2021 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được UBND xã N, huyện N, tỉnh Nam Định (nay là xã Q, tỉnh Ninh Bình) cấp đăng ký kết hôn là một hôn nhân tự do, tiến bộ và có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, được thời gian ngắn thì mâu thuẫn vợ chồng phát sinh, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống dẫn đến cãi chửi nhau, gia đình hai bên khuyên giải nhiều lần nhưng không thành, chị L đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ để sinh sống. Nay chị L xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh H không còn đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng được ly hôn. Anh H không muốn vợ chồng ly hôn. Xét việc xin ly hôn của chị L và quan điểm không muốn ly hôn của anh H thấy; Trong quá trình Toà án thụ lý giải quyết vụ án đến khi xét xử Thẩm phán đã nhiều lần triệu tập anh H và chị L đến để hòa giải nhưng anh H không đến, vợ chồng vẫn sống ly thân. Như vậy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị L và anh H đã trầm trọng, hôn nhân đã tan vỡ, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay chị L xin ly hôn nên chấp nhận là phù hợp.

Về con chung: Chị Phạm Thị L và anh Nguyễn Văn H đều thống nhất xác định vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Phạm Minh K, sinh ngày 26/07/2022 ly hôn anh H xin nhận trực tiếp nuôi dưỡng cháu K, không yêu cầu chị L phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh và chị L cũng nhất trí.

Xét việc thỏa thuận nuôi con chung của anh H và chị L thấy là hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức xã hội, không vi phạm điều cấm của pháp luật nên được chấp nhận.

Về tài sản chung vợ chồng: Phạm Thị L và anh Nguyễn Văn H đều thống nhất không có vì vậy Tòa án không xem xét giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm chị Phạm Thị L phải nộp theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Ninh Bình là phù hợp.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 56; 81; 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ các Điều 147; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 6 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

1. Xử ly hôn giữa chị Phạm Thị L và anh Nguyễn Văn H.

2. Về con chung: Xử giao con chung là cháu Nguyễn Phạm Minh K sinh ngày 26/7/2022 cho anh Nguyễn Văn H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Chị Phạm Thị L không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh H. Không ai được ngăn cản quyền chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng và thăm nom con chung.

3. Án phí dân sự sơ thẩm chị Phạm Thị L phải nộp 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị L đã nộp theo biên lai số 0003037 ngày 21/11/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình. Chị L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt nguyên đơn, bị đơn. Báo cho người vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a và 9 Luật thi hành dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ