vanban.org

Bản án 46/2025/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Thuận An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 18/03/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a Khoản 2 Điều 145; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Lê Phú Q phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”. Xử phạt bị cáo Lê Phú Q 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 27 tháng 11 năm 2024. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "BẢN ÁN HÌNH SỰ - phạm tội giao cấu với trẻ em (điều 115 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Điểm a Khoản 2 Điều 145; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 145 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THUẬN AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƯƠNG
Bản án số: 46/2025/HS-ST
Ngày: 18 – 3 – 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phạm Thị Bạch Tuyết.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phạm Thị Bé – Giáo viên hưu trí

2. Ông Lê Văn Công – Hội người cao tuổi

- Thư ký phiên toà: Bà Thái Thị Yến - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chiến - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm kín vụ án hình sự thụ lý số 64/2025/TLST- HS ngày 26 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Lê Phú Q, sinh năm 2000; số CMND/Thẻ CCCD: 087200012743; nơi thường trú: Tổ C, Ấp T, xã T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Thợ cơ khí; trình độ học vấn: 07/12; con ông Nguyễn Văn L và bà Lê Song N; tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giam ngày 27/11/2024 đến nay. Có mặt.

- Bị hại: Đặng Thị Mỹ H, sinh ngày 07/5/2005; địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Vắng mặt.

- Người làm chứng:

Ông Lê Hải B, sinh năm 2002. Vắng mặt.

Bà Lê Song N, sinh năm 1977. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Phú Q và Đặng Thị Mỹ H, sinh ngày 07/5/2005 có quan tình cảm yêu thương. Trong quá trình quen biết nhau, giữa Q và H đã quan hệ tình dục với nhau được 04 lần, khi cả hai quan hệ đều tự nguyện, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 26/3/2021, Lê Phú Q điều khiển xe mô tô chạy đến phòng trọ của Đặng Thị Mỹ H tại địa chỉ hẻm S, đường L, Khu phố C, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương chở H đi chơi. Đến khoảng 21 giờ 00 phút cùng ngày, Q chở H về phòng trọ của Q tại địa chỉ số I, T, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương để ngủ qua đem. Đến khoảng 22 giờ 00 phút cùng ngày, Q và H tự cởi quần áo rồi quan hệ tình dục với nhau, sau khi quan hệ xong cả hai mặc quần áo, nằm ngủ.

Lần thứ hai: Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 27/3/2021, Q và H nằm trên gác phòng trọ của Q, tại địa chỉ số I T, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Lúc này, Q và H tự cởi quần áo rồi quan hệ tình dục với nhau, sau khi quan hệ xong cả hai mặc quần áo, nằm ngủ.

Lần thứ ba: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 28/3/2021, Q và H nằm trên gác phòng trọ của Q, tại địa chỉ số I T, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Lúc này, Q và H tự cởi quần áo rồi quan hệ tình dục với nhau, sau khi quan hệ xong cả hai mặc quần áo, nằm ngủ. Đến khoảng 02 giờ 00 phút ngày 29/3/2021, Q và H tiếp tục quan hệ tình dục với nhau, sau khi quan hệ xong cả hai mặc quần áo, nằm ngủ. Đến khoảng 18 giờ 00 phút cùng ngày, Q điều khiển xe mô tô chở H về phòng trọ của H rồi đi về.

Ngày 30/3/2021, ông Đặng Văn B1 và bà Bạch Hồng T là cha mẹ ruột của bị hại Đặng Thị Mỹ H đến Công an phường A trình báo và làm đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với Lê Phú Q về hành vi giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi.

Tại Kết luận giám định pháp y về tình dục số 195/2021/GĐPY ngày 16/4/2021 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh B kết luận tình trạng bộ phận sinh dục của Đặng Thị Mỹ H như sau: Âm hộ, tầng sinh môn không trầy sướt; màng trinh dãn rộng, vết rách cũ vị trí 03 giờ, 09 giờ, âm đạo có huyết kinh.

Căn cứ Giấy khai sinh số 299 ngày 01/9/2006 của Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp cấp thì Đặng Thị Mỹ H, sinh ngày 07/5/2005. Tại thời điểm thực hiện hành vi quan hệ tình dục, H có độ tuổi là 15 tuổi 10 tháng 20 ngày nhưng giấy khai sinh quá hạn nên ngày 25/11/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T ra Quyết định trưng cầu giám định độ tuổi của Đặng Thị Mỹ H.

Bản kết luận giám định pháp y về độ tuổi số 4854/C09B ngày 06/12/2021 của Phân viện HKHS tại Thành phố Hồ Chí Minh - Bộ C kết luận Đặng Thị Mỹ H như sau: Qua quá trình khám lâm sàng và kết quả cận lâm sàng, xác định tại thời điểm giám định (tháng 11 năm 2021) Đặng Thị Mỹ H có độ tuổi từ 16 năm 3 tháng đến 16 năm 9 tháng.

Bản Cáo trạng số 61/CT-VKS-TA ngày 24 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Lê Phú Q về tội ‘‘Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo Đ a Khoản 2 Điều 145 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương vẫn giữ nguyên quyết định truy tố theo toàn bộ nội dung cáo trạng và đề nghị:

Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng Đ a Khoản 2 Điều 145; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Lê Phú Q từ 03 (ba) năm đến 04 (bốn) năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại 30.000.000 đồng. Nay. Bị hại không có yêu cầu bị cáo bồi thường thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

- Tại phiên tòa bị cáo Lê Phú Q đã thừa nhận toàn bộ nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thuận An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và các đương sự không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Phú Q khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại tại cơ quan điều tra và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Do có quan hệ tình cảm yêu đương nên từ ngày 26/3/2021 đến ngày 29/3/2021, tại địa chỉ số I, T, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương, Lê Phú Q đã 4 lần thực hiện quan hệ tình dục thuận tình với Đặng Thị Mỹ H, sinh ngày 07/5/2005 thì bị phát hiện. Do nhiều lần quan hệ và thời điểm Lê Phú Q và cháu Đặng Thị Mỹ H có quan hệ tình dục với nhau thì cháu H chưa đủ 16 tuổi. Do đó, hành vi của bị cáo đã phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo Đ a Khoản 2 Điều 145 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố bị cáo Lê Phú Q về tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ, đúng người và đúng pháp luật.

Xét, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người đã thành niên, nhận thức được việc làm của mình là vi phạm nhưng vì ham muốn quan hệ tình dục, bị cáo bất chấp pháp luật, nhiều lần giao cấu với cháu H khi cháu chưa đủ 16 tuổi, chưa phát triển đầy đủ về tâm sinh lý và sức khỏe. Hành vi đó ảnh hưởng đến đạo đức, nhân cách, sự phát triển bình thường của bị hại. Lỗi của bị cáo là cố ý trực tiếp. Do đó, cần cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thường xong cho bị hại; được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, xét đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo Điểm b, s Khoản 1; Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đề nghị mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An tại phiên tòa đối với bị cáo là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại 30.000.000 đồng. Tại đơn đề nghị giải quyết vắng mặt bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điểm a Khoản 2 Điều 145; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

- Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

- Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Lê Phú Q phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.

Xử phạt bị cáo Lê Phú Q 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 27 tháng 11 năm 2024.

2. Về án phí: Bị cáo Lê Phú Q phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ