- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng Trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Quàng Văn Đ phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 -NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 46/2025/HS-ST. Ngày 26 - 9 - 2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Xuyên.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Phương và bà Nguyễn Thị Huê.
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Hồng Liên - Là Thư ký của Toà án nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Trần Văn Nghĩa - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 09 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 23/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 09 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 09 năm 2025, đối với bị cáo:
Quàng Văn Đ, sinh năm 1996; nơi sinh: Tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản CV, xã M.E, tỉnh Sơn La; chỗ ở: Tổ 1, phường PV, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Quàng Văn N và bà Lò Thị C; vợ: Lường Thị Thanh H, sinh năm 1999 (đã ly hôn); con: có 01 con sinh năm 2018; tiền án: không; tiền sự: Ngày 12/06/2023, Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La ra quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 20 (hai mươi) tháng. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/7/2025 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh Ninh Bình; có mặt.
Người làm chứng: Ông Nguyễn Trọng H, sinh năm 1952; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 15 phút ngày 13/7/2025, Quàng Văn Đ đi xe ôm từ chỗ ở tại tổ 1, phường Phù Vân đến chân cầu Lê Công Thanh thuộc phường Phủ Lý tìm mua ma túy để sử dụng. Đ gặp một người đàn ông đi xe máy SH màu xám, không gắn biển kiểm soát, Đ hỏi người đàn ông có biết chỗ nào bán ma túy không, người đàn ông trả lời “Anh biết, nhưng chỉ còn hàng đá thôi, em muốn lấy bao nhiêu?”, Đ nói với người đàn ông “Em chỉ còn ba trăm nghìn thôi có lấy được không”, người đàn ông nói là “được”. Sau đó, người đàn ông điều khiển xe máy chở Đ đến đầu ngõ 225 đường Lê Lợi thuộc tổ 9A, phường Phủ Lý, thì người đàn ông dừng xe và bảo Đ đi vào trong ngõ 225 để mua ma túy. Đ đi được một đoạn thì gặp một người nam giới đang ngồi trong ngõ, Đ nói với người nam giới “Cho em lấy hàng”, người nam giới hỏi “Tiền đâu?”, Đ đưa cho người nam giới số tiền 300.000 đồng. Người nam giới cầm tiền rồi đưa cho Đ một túi nilon màu trắng bên trong chứa chất tinh thể màu trắng. Đ biết đó là ma túy đá nên cất vào trong túi quần đang mặc và đi bộ ra đầu ngõ 225 đường Lê Lợi thì bị lực lượng Công an phường Phủ Lý phát hiện, bắt quả tang.
* Đồ vật, tài sản thu giữ gồm: 01 túi nilon màu trắng hình chữ nhật, kích thước (4x6)cm, có kẹp nhựa viền miệng túi màu đỏ bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01.
Ngày 14/7/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Quàng Văn Đ tại tổ 1, phường Phù Vân, tỉnh Ninh Bình. Quá trình khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu, tài sản gì liên quan đến vụ án.
Tại Bản kết luận giám định số 39/KL-KTHS ngày 17/7/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Ninh Bình, kết luận: “Mẫu tinh thể màu trắng trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,669g (không phẩy sáu trăm sáu mươi chín gam) loại: Methamphetamine”.
Từ nội dung trên, bản cáo trạng số 23/CT-VKS-KV5 ngày 08/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình đã truy tố Quàng Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Quàng Văn Đ như đã nêu trong bản cáo trạng, không thay đổi, bổ sung gì thêm. Sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân thân bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự; đề nghị tuyên bố bị cáo Quàng Văn Đ phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"; xử phạt bị cáo Quàng Văn Đ từ 48 đến 54 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ của bị cáo được trả lại sau giám định cùng toàn bộ bao gói.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Quàng Văn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình. Bị cáo không có ý kiến tranh luận, bào chữa về hành vi phạm tội, mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra, Điều tra viên, của Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối với người tham gia tố tụng là người làm chứng mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy, trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của họ, được cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định pháp luật.
Về tội danh: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Quàng Văn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình đã nêu. Lời khai của bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ, niêm phong vật chứng, bản kết luận giám định, lời khai của người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 13/7/2025, tại tổ 9A, phường Phủ Lý, tỉnh Ninh Bình, Quàng Văn Đ đang cất giữ trái phép 0,669 gam ma túy loại Methamphetamine ở trong túi quần đang mặc mục đích để sử dụng thì bị tổ công tác Công an phường Phủ Lý phát hiện, bắt quả tang. Hành vi của bị cáo Quàng Văn Đ đủ yếu tố cấu thành tội“Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình truy tố đối với bị cáo Quàng Văn Đ là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã từng bị Tòa án ra quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 20 tháng, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tự rèn luyện bản thân, mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, nên Hội đồng xét xử cũng cân nhắc tình tiết này khi lượng hình.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt:
Hình phạt chính: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thực hiện với lỗi cố ý đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy và các chất gây nghiện, gây mất trật tự an toàn trong xã hội, là nguyên nhân phát sinh nhiều tội phạm nguy hiểm và hành vi vi phạm pháp luật khác, gây bất bình sâu sắc trong quần chúng nhân dân. Do vậy cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo chính bị cáo và phòng ngừa chung trong cộng đồng.
Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vấn đề khác của vụ án: Đối với người đàn ông đi xe máy SH màu xám, không mang biển kiểm soát chở Quàng Văn Đ đi mua ma túy và người nam giới Đ khai đã bán ma túy cho Đ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình đã tiến hành rà soát, xác minh nhưng không xác định được. Ngoài lời khai của Đ không còn tài liệu, chứng cứ khác nên không có căn cứ để xử lý trong vụ án này.
Về vật chứng và tài sản đã thu giữ:
Đối với toàn bộ số ma túy loại Methamphetamine được hoàn trả sau giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành do vậy cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo thực hiện quyền kháng cáo theo pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 47 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ các Điều 106; 136; 331; 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ Luật Phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Quàng Văn Đ phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Xử phạt bị cáo Quàng Văn Đ 48 (bốn mươi tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 13 tháng 7 năm 2025.
3. Xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy 01(một) phong bì được niêm phong số 39/LK-KTHS, mặt trước của phong bì ghi “Mẫu vật hoàn trả” QT01 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình.
Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình với Phòng thi hành án dân sự khu vực 5 - Ninh Bình ngày 10/9/2025.
4. Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Quàng Văn Đ phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tối cao; - TAND tỉnh Ninh Bình; - VKSND tỉnh Ninh Bình; - VKSND khu vực 5 - Ninh Bình; - CQCSĐT CA tỉnh Ninh Bình; - Phòng THAHS và HTTP CA tỉnh Ninh Bình; - Phòng hồ sơ nghiệp vụ CA tỉnh Ninh Bình; - Trại tạm giam số 2 - Công an tỉnh Ninh Bình; - Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Xuyên |