vanban.org

Bản án 46/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Tr Q H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”

Xử phạt bị cáo Tr Q H 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (ngày 07/6/2025). Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trư trái phép ma tý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Tr Q H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 - LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2025/HS-ST
Ngày 27-8-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - LÂM ĐỒNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Thúy

Các hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Tài

Ông Phạm Đức Minh

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Vương thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4-Lâm Đồng.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Lâm Đồng tham gia phiên tòa: ông Trần Thanh Hoàng - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 8 năm 2025. Tại trụ sở Tòa án khu vực 4-Lâm Đồng, xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 27/2025/TLST- HS ngày 08 tháng 8 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2025/QĐXXST- HS ngày 13 tháng 8 năm 2025 đối với bị cáo.

Họ và tên: Tr Q H; Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1998; Tại: Lâm Đồng; NĐKNKTT, Chỗ ở: Số nhà 409/2 đường Nguyễn Văn Cừ, phường Lộc Phát, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng. Nay là số nhà 409/2 đường Nguyễn Văn Cừ, phường 1 Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Phụ hồ; Con ông: Tr X H sinh năm 1968; Con bà: L Th H V, sinh năm 1975; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực số 8 - Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh Lâm Đồng từ ngày 07/6/2025 cho đến nay. (Có mặt tại phiên tòa)

Người làm chứng:

Anh D Đ M, sinh năm 1993 (vắng mặt)

Địa chỉ: 65 đường Hoàng Diệu, Phường 1 Bảo Lộc, Lâm Đồng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 21 giờ 30 phút ngày 07/6/2025, tại trước số nhà 54, đường Hà Giang, phường Lộc Sơn, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng (nay là số nhà 54, đường Hà Giang, phường B’Lao, tỉnh Lâm Đồng), Phòng CSĐTTP về Ma tuý Công an tỉnh Lâm Đồng phối hợp với Công an phường Lộc Sơn, thành phố Bảo Lộc (nay là Công an phường B’Lao, tỉnh Lâm Đồng) yêu cầu Tr Q H đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha - Exciter, biển số 49H1- 356.89 chở theo sau Da Đ M, sinh năm 1993. HKTT: Số 65 đường Hoàng Diệu, phường Lộc Phát, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng (nay là phường 1 Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng) dừng xe để kiểm tra do nghi vấn các đối tượng có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Quá trình kiểm tra phát hiện: Trong túi quần sau bên phải của Tr Q H đang mặc có 01 gói nilon màu trắng, rãnh khép kín, vạch kẻ ngang màu đỏ, kích thước 04x07cm, bên trong chứa chất tinh thể rắn màu trắng nghi là ma túy. Theo khai nhận của Huy đây là ma túy đá của H tàng trữ để sử dụng cho bản thân. Do vậy cơ quan CSĐT đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trịnh Quang Huy đồng thời thu giữ niêm phong tang vật theo quy định của pháp luật. Kết quả xét nghiệm ma túy qua nước tiểu bằng que test đối với Trịnh Quang Huy và Danh Đức Mạnh đều dương tính với ma túy Methamphetamin. (BL 20-25)

Quá trình điều tra Tr Q H khai nhận: Vào chiều ngày 07/6/2025 H đi đến khu vực tái định cư thuộc tổ 9, phường Lộc Phát thành phố Bảo Lộc (nay là tổ 9, phường 1 Bảo Lộc) để tìm mua ma túy. Tại đây Huy gặp một nam thanh niên không rõ nhân thân lai lịch khoảng 25 tuổi nên đã hỏi mua của người này 500.000đ tiền ma túy đá. Sau đó người nam thành niên này đưa cho Huy 01 bịch nilon loại túi Zip kích thước khoảng 07x04cm bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng là ma túy đá. Huy cất gói ma túy vào túi quần rồi đi đến đoạn đường vắng gần đó sử dụng một ít, số ma túy còn lại Huy bỏ vào túi quần mang về nhà nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân. Đến tối ngày 07/6/2025 thì Danh Đức Mạnh điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha - Exciter, biển số 49H1- 356.89 đi tới nhà rủ Huy đi mua cơm, khi cả hai đi đến trước số nhà 54, đường Hà Giang, phường Lộc Sơn, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng (nay là số nhà 54, đường Hà Giang, phường B’Lao, tỉnh Lâm Đồng) thì bị cơ quan Công an kiểm tra phát hiện bắt quả tang và thu giữ tang vật như đã nêu ở trên.(BL 92-97, 100-102, 106-108)

Về vật chứng: Công an tỉnh Lâm Đồng đã thu giữ và trả lại 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha - Exciter, biển số 49H1- 356.89 cho bà Tr Th H, sinh năm 1973, địa chỉ: Số nhà 65 đường Hoàng Diệu, phường 1 Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng là chủ sở hữu hợp pháp; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung A50S, màu xanh và 01 quần đùi thun màu đen của Trịnh Quang Huy, 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật sau giám định số 490/2025-PC09. (BL 59-61, 80-81)

Tại Bản kết luận giám định số: 490/KL- KTHS ngày 13/6/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Lâm Đồng kết luận:

Mẫu tinh thể đựng trong 01 gói nilon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,4244g (không phẩy bốn hai bốn bốn gam), loại Methamphetamine.

Methamphetamine là loại chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT: 247, Nghị định 57/2022/NĐ – CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ. (BL 39)

Bản cáo trạng số 21/CT- VKSCT ngày 05 tháng 8 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4-Lâm Đồng truy tố bị cáo Tr Q H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận hành vi của mình như nội dung cáo trạng VKS truy tố là đúng không oan sai, bị cáo không có ý kiến gì bản cáo trạng, bị cáo không bào chữa hành vi phạm tội của mình đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố, tội danh và Điều luật áp dụng đối với bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử Tuyên bị cáo Trịnh Quang Huy phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS.

Về hình phạt đề nghị xử phạt bị cáo Tr Q H từ 30 (ba mươi) tháng tù đến 36 (ba mươi sáu) tháng tù.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật giám định số 490/2025-PC 09; 01 quần thun màu đen; Đề nghị tuyên trả cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung A50S. Màu xanh số Imei 1: 357533640286802; Imei 2: 358833700286802 (điện thoại đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng máy)

Về án phí bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đầy đủ các hành vi, quyết định tố tụng theo quy định của bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung: Trong quá trình điều tra bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai bị cáo tại phiên Tòa phù hợp lời khai trong hồ sơ vụ án, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét, biên bản niêm phong đồ vật, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Vào lúc 21giờ 30 phút ngày 07/6/2025, tại trước số nhà 54, đường Hà Giang, phường Lộc Sơn, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng, Phòng CSĐTTP về Ma tuý Công an tỉnh Lâm Đồng phối hợp với Công an phường Lộc Sơn, thành phố Bảo Lộc (nay là Công an phường B’Lao, tỉnh Lâm Đồng) kiểm tra phát hiện Trong túi quần sau bên phải của Tr Q đang mặc có 01 gói nilon màu trắng, rãnh khép kín, vạch kẻ ngang màu đỏ, kích thước 04x 07cm, bên trong chứa chất tinh thể rắn màu trắng nghi là ma túy. Tại Bản kết luận giám định số 490/KL- KTHS ngày 13/6/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Lâm Đồng kết luận Mẫu tinh thể đựng trong 01 gói nilon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,4244g (không phẩy bốn hai bốn bốn gam), loại Methamphetamine.

Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ cơ sở kết luận phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Về tính chất và mức độ: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý nhà nước về chất ma tuý vì động cơ thỏa mãn cơn nghiện bị cáo thực hiện hành vi cất giữ, tàng trữ một lượng ma tuý có khối lượng có khối lượng 0,4244g (không phẩy bốn hai bốn bốn gam), loại Methamphetamine. Xét thấy bị cáo là người đầy đủ năng lực do vậy cần phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên Tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 cần áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có tình tiết tăng nặng

Xét ý kiến của Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS. Đề nghị xử phạt bị cáo chấp hành hình phạt tù từ 30 (ba mươi) tháng tù đến 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Là có căn cứ, đúng pháp luật.

Từ nhận định trên, cân nhắc tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì cần phải áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội là cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo giáo dục và răn đe phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho H, quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Lâm Đồng tách và điều tra xử lý sau. Hội đồng xét xử không xem xét

Đối với D Đ M Tại thời điểm cơ quan CSĐT bắt quả tang đối với Trịnh Q thì M đang ngồi sau xe mô tô biển số 49H1- 356.89 do Huy điều khiển. Quá trình điều tra xác định Mạnh không biết và không liên quan đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của H. Do vậy cơ quan CSĐT không xem xét trách nhiệm hình sự đối với Mạnh là đúng theo quy định của pháp luật.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Danh Đức Mạnh, cơ quan CSĐT đã ra Quyết định xử phạt hành chính là đúng theo quy định của pháp luật.

Về xử lý vật chứng: 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật giám định số 490/2025-PC 09; 01 quần thun màu đen đây là vật chứng. Hội đồng xét xử xét thấy cần tuyên tịch thu tiêu hủy;

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung A50S màu xanh số Imei 1: 357533640286802; Imei 2: 358833700286802 (điện thoại đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng máy) bị cáo dùng liên quan không liên quan vụ án xét thấy cần tuyên trả cho bị cáo

Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Tr Q H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

2. Xử phạt bị cáo Tr Q H 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (ngày 07/6/2025).

3. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS

Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật giám định số 490/2025-PC 09; 01 quần thun màu đen.

Tuyên trả lại cho bị cáo Tr Q H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung A50S. màu xanh số Imei 1: 357533640286802; Imei 2: 358833700286802 (điện thoại đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng máy).

(Vật chứng trên Phòng thi hành án dân sự khu vực 4-Lâm Đồng đang tạm giữ theo biên bản giao, mở niêm phong đồ vật tài liệu bị tạm giữ ngày 14/8/2025 giữa công an tỉnh Lâm Đồng và Phòng thi hành án dân sự khu vực 4-Lâm Đồng).

4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân Tỉnh Lâm Đồng xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Lâm Đồng;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND tỉnh Lâm Đồng;

- VKSND Khu Vực 4-Lâm Đồng;

- Phân trại tạm giam khu vực 8, Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh Lâm Đồng

- Phòng thi hành án dân sự khu vưc 4-Lâm Đồng

đã ký

- THADS tỉnh Lâm Đồng

- Những người tham gia tố tụng;

Trần Thị Thanh Thúy

- Lưu hs vụ án

ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Thanh Thúy

Cỡ chữ