- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN AN DƯƠNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 46/2025/HS-ST Ngày 13-3-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN AN DƯƠNG - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Thao
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Văn Dung
Bà Bùi Thị Nhàn
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Anh Thư - Thư ký Toà án nhân dân quận An Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận An Dương tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Trà My - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận An Dương, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 41/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2025/QĐXXST- HS ngày 24 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:
Vũ Văn L, sinh ngày 12 tháng 10 năm 1993, tại Hải Phòng; Nơi đăng ký thường trú: Thôn 3, xã B, huyện A, (nay là: Tổ dân phố 3, phường N, quận A), thành phố H; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 11/12; dân tộc: Kinh, tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; con ông Vũ Văn H (đã chết) và bà Phạm Thị N; có vợ là Cao Thị H có 01 con; tiền sự, tiền án: Không; nhân thân: có 01 tiền án tại Bản án số 55/2019/HS-ST ngày 01/10/2019, Tòa án nhân dân huyện An Dương xử phạt 06 tháng tù về tội Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà đã thi hành xong án phí sơ thẩm, chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/10/2019 (đã được xoá án tích); bị tạm giữ ngày 13/11/2024, đến ngày 19/11/2024 chuyển tạm giam; có mặt.
Những người tham gia tố tụng:
- Người làm chứng: Anh Phạm Văn T; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 45 phút ngày 13/11/2024, tổ công tác Công an xã Nam Sơn kết hợp với Công an xã Bắc Sơn làm nhiệm vụ tại thôn Mỹ Tranh, xã Nam Sơn, huyện An Dương, phát hiện bắt quả tang Vũ Văn L có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ tại túi vải màu đen L mang theo bên người 01 gói nilon màu trắng kích thước 03x03cm bên trong chứa 02 viên nén hình tròn màu đỏ và các mảnh vụn, L khai là ma tuý để sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản, niêm phong vật chứng đưa đối tượng và vật chứng về trụ sở giải quyết. Khám xét khẩn cấp nơi ở của Vũ Văn L không thu giữ đồ vật gì liên quan đến ma túy.
Kết luận giám định số 1293/KL-KTHS ngày 18/11/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng, kết luận: 02 viên nén màu đỏ và các mảnh vụn viên nén gửi giám định là ma tuý có khối lượng 0,28 gam, loại Methamphetamine.
Quá trình điều tra, Vũ Văn L khai nhận: Do bản thân nghiện ma tuý nên chiều ngày 12/11/2024, L đi xe ôm của người không quen biết đến khu vực đường tàu Metro thuộc quận Hồng Bàng mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói nilon bên trong có 03 viên nén màu hồng là ma tuý đá với số tiền 230.000 đồng. Mua xong, L mang về nhà sử dụng một nửa viên, số ma tuý còn lại L cất trong túi vải đen. Hơn 12 giờ ngày 13/11/2024, L mang theo túi vải có ma tuý đi bộ ra khu vực thôn Mỹ Tranh, xã Nam Sơn tìm chỗ để sử dụng thì bị lực lượng Công an kiểm tra, bắt quả tang cùng vật chứng.
Vật chứng: 01 phong bì niêm phong số 1293MT/PC09 là ma túy còn lại sau giám định, chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận An Dương quản lý.
Tại Cáo trạng số 45/CT-VKS-AD ngày 17 tháng 02 năm 2025 của Viện Kiểm sát nhân dân quận An Dương, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Vũ Văn L về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung trên và nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, xử phạt bị cáo mức hình phạt nhẹ nhất để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung cáo trạng đã nêu, khẳng định cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân quận An Dương, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Vũ Văn L theo tội danh và điều khoản đã nêu là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Sau khi phân tích hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử: Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Vũ Văn L mức án từ 21 tháng tù đến 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 13/11/2024. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định; Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận An Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận An Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về việc vắng mặt người làm chứng tại phiên tòa: Xét thấy, người làm chứng đã có lời khai trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự tiến hành xét xử vụ án vắng mặt người làm chứng.
Về tội danh và tình tiết định khung hình phạt: Tại phiên toà bị cáo L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung nêu trên và Cáo trạng. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 13 giờ 15 phút ngày 13/11/2024, phù hợp với vật chứng thu giữ, phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, nên đủ căn cứ kết luận: Ngày 13/11/2024, tại thôn Mỹ Tranh, xã Nam Sơn, huyện An Dương (nay là phường Nam Sơn, quận An Dương), thành phố Hải Phòng, Vũ Văn L bị bắt quả tang khi đang cất giữ trái phép chất ma túy có khối lượng 0,28 gam Methamphetamine. Việc tàng trữ chất ma túy của bị cáo không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển hay sản xuất trái phép chất ma túy mà với mục đích để sử dụng cho bản thân. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo L là người có năng lực phải chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức rõ việc cất giấu trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, hành vi của bị cáo L đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự như Viện Kiểm sát nhân dân quận An Dương truy tố bị cáo L là đúng người, đúng tội.
Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:
Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma tuý, gây mất trật tự trị an xã hội. Việc tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma tuý không chỉ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, mà từ ma tuý đã làm phát sinh nhiều tội phạm khác. Do vậy, hành vi phạm tội của bị cáo L cần phải được xử phạt nghiêm mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Vũ Văn L không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo L có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt chính: Xét thấy, bị cáo L nhân thân có 01 tiền án mặc dù đã được xóa án tích nhưng lại thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, như vậy thể hiện bị cáo là người không có ý thức sửa chữa lỗi lầm. Vì vậy, xử phạt bị cáo trên mức khởi điểm của khung hình phạt được áp dụng như mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự thì “người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng”. Xét thấy, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định. Vì vậy, miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo L.
Về xử lý vật chứng: Đối với số ma túy còn lại sau giám định 01 phong bì niêm phong số 1293MT/PC09, đây là tang vật của vụ án nên cần phải tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo L phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo L có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Về các vấn đề khác: Đối với người bán ma túy cho L, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, có căn cứ xử lý sau.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự,
Tuyên bố bị cáo Vũ Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Vũ Văn L 21 (Hai mươi mốt) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/11/2024.
Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Vũ Văn L.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 và khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định 01 phong bì niêm phong số 1293MT/PC09. (Tình trạng, đặc điểm vật chứng thể hiện tại Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 18 tháng 02 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận An Dương).
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Vũ Văn L phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Vũ Văn L được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành án tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hải Phòng; - VKSND thành phố Hải Phòng; - VKSND quận An Dương; - Cơ quan CSĐT – CATP Hải Phòng; - Phòng PV 06; Phòng PC 10 CATP Hải Phòng; - Sở Tư pháp TP Hải Phòng; - Chi cục Thi hành án Dân sự quận An Dương; - Trại tạm giam - Công an TP Hải Phòng; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ; Lưu VT. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Bùi Thị Nhàn – Vũ Văn Thi | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Thao THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Thao |