- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Phổ Đ tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Phổ Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – LÂM ĐỒNG TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 46/2025/HS-ST Ngày: 06- 8 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – LÂM ĐỒNG, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Xuân Vi
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Dung
Ông Lê Minh Trí
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Giang Ngọc Hà là Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 10- Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 - Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hạnh Tâm, Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 8 năm 2025, Tòa án nhân dân Khu vực 10 - Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai, trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 165/2025/TLST-HS ngày 26 tháng 6 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2025/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2025, Thông báo số 01/TB-TA ngày 30/7/2025 tại điểm cầu Trung tâm tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 10 - Lâm Đồng và điểm cầu thành phần tại Phân trại tạm giam số 1 – Trại tạm giam số 3, Công an tỉnh L đối với bị cáo:
Trần Phổ Đ, sinh năm 1977, tại Bình Thuận (nay là tỉnh Lâm Đồng); HKTT: Khu phố D, phường P1, thành phố P, tỉnh Bình Thuận (nay là phường P1, tỉnh Lâm Đồng); Nơi ở hiện tại: Thôn P2, xã H1, huyện H, tỉnh Bình Thuận (nay là xã T, tỉnh Lâm Đồng); Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T (đã chết) và bà Võ Thị T1 (đã chết); Vợ: Từ Thị Hồng H2, sinh năm 1978 (đã ly hôn) và 02 con. Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/3/2025, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam số 1 – Trại Tạm giam số 3, Công an tỉnh L. Hiện có mặt tại điểm cầu thành phần tại Phân trại tạm giam số 1 – Trại Tạm giam số 3, Công an tỉnh Lâm Đồng.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Trần Phổ M, sinh năm 2003
Địa chỉ: Tổ B, khu phố D, phường P1, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Nay là phường P1, tỉnh Lâm Đồng. (Vắng mặt)
- Người tham gia tố tụng khác hỗ trợ tổ chức phiên tòa trực tuyến tại điểm cầu thành phần tại Phân trại tạm giam số 1 – Trại Tạm giam số 3, Công an tỉnh L:
1. Ông Trần Tuấn A – Chiến sỹ thuộc Phân trại tạm giam số 1 - Trại tạm giam số 3, Công an tỉnh Lâm Đồng;
2. Ông Lê Ngọc Gia B - Chiến sỹ thuộc Phân trại tạm giam số 1 - Trại tạm giam số 3, Công an tỉnh Lâm Đồng;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 20/3/2025, Trần Phổ Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 86C1-052.56 chạy đến khu vực C thuộc khu phố A, phường B, thành phố P (nay là phường P1, tỉnh Lâm Đồng) chơi. Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày thì tổ tuần tra Công an phường B (nay là Công an phường P1) đi tuần tra đến khu vực trên, thấy Đ đang ngồi trên ghế đá tại vỉa hè có nhiều biểu hiện nghi vấn nên tổ tuần tra tiến hành kiểm tra hành chính, qua kiểm tra phương tiện xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 86C1-052.56 phát hiện trong cốp xe có một hộp nhựa đựng kính màu đen bên trong có 01 gói nylon không màu, một đầu có khóa nhựa kéo màu trắng, một đầu có góc được hàn kín, bên trong túi nylon có chứa tinh thể màu trắng và một ống hút bên trên có một đầu hình tròn bằng thủy tinh (dụng cụ để sử dụng ma túy đá). Đ khai nhận tinh thể màu trắng là ma túy đá được một người bạn ngoài xã hội tên C (không rõ nhân thân) cho Đ vào khoảng 12 giờ trưa ngày 15/3/2025 tại khu vực gần nhà thờ V để Đ sử dụng. Tổ tuần tra Công an phường B (nay là Công an phường P1) đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và tạm giữ tang vật có liên quan, đưa Đ về trụ sở làm việc. Tại cơ quan Công an, Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Tại Kết luận giám định số 253 ngày 27/3/2025 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
Mẫu M gửi giám định có khối lượng 0,2433 gam; là Methamphetamine.
Vật chứng thu giữ:
- Thu giữ trong cốp xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 86C1-052.56:
+ 01 gói nylon không màu, một đầu có khóa nhựa kéo màu trắng, một đầu có góc được hàn kín, kích thước (4 x 7)cm, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M khi giám định) để trong hộp nhựa đựng kính màu đen, phía mặt trên hộp có dòng chữ Italy D để trong cốp xe mô tô sirius màu đen vàng biển số 86C1- 052.56. Đ khai nhận là ma túy đá.
+ 01 ống hút bằng nhựa bên trên có một đầu hình tròn bằng thủy tinh (dụng cụ để sử dụng ma túy đá).
+ 01 hộp nhựa đựng kính màu đen, phía mặt trên hộp có dòng chữ Italy D.
+ 01 chiếc điện thoại di động hiệu Vivo, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết bên trong.
+ 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 86C1-052.56
Xử lý vật chứng: 01 gói nylon có khóa kéo và 0,2109 gam mẫu M được niêm phong trong phong bì số 253; 01 ống hút bằng nhựa bên trên có một đầu hình tròn bằng thủy tinh (dụng cụ để sử dụng ma túy); 01 hộp nhựa đựng kính màu đen, phía mặt trên hộp có dòng chữ Italy Design; 01 điện thoại di động hiệu Vivo và 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, biển số 86C1-052.56, Viện kiểm sát thành phố P đã ra Quyết định chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P bảo quản, chờ xử lý
Tại Cáo trạng số 140/CT-VKSPT-HS ngày 23/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố P (Nay là Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10, tỉnh Lâm Đồng) truy tố bị cáo Trần Phổ Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
1. Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
1.1 Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Trần Phổ Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Đề nghị xử phạt: Bị cáo Trần Phổ Đ từ 12 đến 18 tháng tù.
1.2 Về xử lý vật chứng:
- Đề nghị tịch thu tiêu huỷ: 01 gói nylon có khóa kéo và 0,2109 gam mẫu M được niêm phong trong phong bì số 253; 01 ống hút bằng nhựa bên trên có một đầu hình tròn bằng thủy tinh (dụng cụ để sử dụng ma túy); 01 hộp nhựa đựng kính màu đen, phía mặt trên hộp có dòng chữ Italy Design;
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Vivo cho Trần Phổ Đ là tài sản cá nhân không liên quan đến hành vi phạm tội tuy nhiên cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án;
- Trả lại 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, biển số 86C1-052.56 cho chủ sở hữu.
2. Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố, không có ý kiến tranh luận và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự và không có khiếu nại gì của những người tham gia tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên là hợp pháp.
Về việc vắng mặt người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Phổ M, ông M có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Xét thấy, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Phổ M vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, việc vắng mặt của ông M không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Phổ M như đề nghị của bị cáo và của Kiểm sát viên là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ xác định tội danh và buộc tội bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Trần Phổ Đ khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ, đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày 20/3/2025, tại khu vực C thuộc khu phố A, phường B, thành phố P nay là phường P, tỉnh Lâm Đồng. Trần Phổ Đ đã có hành vi cất giữ trái phép 0,2433 gam Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang.
Hành vi nêu trên của Trần Phổ Đ đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố P (nay là Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10, tỉnh Lâm Đồng) truy tố là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Hành vi nêu trên của bị cáo Trần Phổ Đ là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về quản lý chất ma tuý, không những gây ảnh hưởng nghiêm trọng đất tình hình an ninh trật tự tại địa phương, mà còn là nguyên nhân là phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Vì vậy, cần áp dụng một mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
Tuy nhiên, cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo vì quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Viện kiểm sát đề nghị áp dụng cho bị cáo là phù hợp, đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét.
Đối với đối tượng tên C là người đã cho Trần Phổ Đ ma túy, do không xác định được nhân thân nên không có cơ sở để xử lý. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự;
Tịch thu tiêu hủy đối với: 01 gói nylon có khóa kéo và 0,2109 gam mẫu M được niêm phong trong phong bì số 253; 01 ống hút bằng nhựa bên trên có một đầu hình tròn bằng thủy tinh (dụng cụ để sử dụng ma túy); 01 hộp nhựa đựng kính màu đen, phía mặt trên hộp có dòng chữ Italy Design;
Đối với 01 điện thoại di động hiệu Vivo là tài sản cá nhân không liên quan đến hành vi phạm tội tuy nhiên cần tiếp tục tạm giữ để bảo đảm thi hành án.
Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, biển số 86C1-052.56: đây là tài sản của ông Trần Phổ M, ông M không biết bị cáo dùng vào việc phạm tội nên trả lại cho ông M.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Phổ Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điểm c khoản 1 Điều 4 Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Trần Phổ Đ 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/3/2025.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy: 01 gói nylon có khóa kéo và 0,2109 gam mẫu M được niêm phong trong phong bì số 253; 01 ống hút bằng nhựa bên trên có một đầu hình tròn bằng thủy tinh (dụng cụ để sử dụng ma túy); 01 hộp nhựa đựng kính màu đen, phía mặt trên hộp có dòng chữ Italy Design;
- Tạm giữ 01 điện thoại di động hiệu Vivo là tài sản cá nhân của bị cáo Trần Phổ Đ (không liên quan đến hành vi phạm tội) để bảo đảm thi hành án.
- Trả lại cho ông Trần Phổ M: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, biển số 86C1-052.56.
(Vật chứng nêu trên được lưu giữ tại Phòng thi hành án dân sự Khu vực 10 – Lâm Đồng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 15/7/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an tỉnh Lâm Đồng với Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 10 – Lâm Đồng).
3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Buộc bị cáo Trần Phổ Đ phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
5. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 06/8/2025), người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Lâm Đồng; - VKSND KV 10 – Lâm Đồng; - Người TGTT; - Phòng THADS KV 10 – Lâm Đồng; - Phân trại TG số 1- Trại TG số 3, CA tỉnh Lâm Đồng; - PV06, PC02. - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng; - CA, UBND P. P1, tỉnh Lâm Đồng; - Lưu: Hồ sơ, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Ngô Thị Xuân Vi |