vanban.org

Bản án 46/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La Tuyên án 08/04/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Cầm Kim T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Cầm Kim T 13 (Mười ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/01/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Cầm Kim T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Cầm Kim T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÙ YÊN
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2025/HS-ST
Ngày 08-4-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ YÊN, TỈNH SƠN LA

Tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Đức.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lê Thị Bống.

Ông Đinh Công Ó.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Bích Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Hằng - Kiểm sát viên.

Tại điểm cầu phân trại tạm giam Phù Yên, Trại tạm giam Công an tỉnh Sơn La

- Người tiến hành tố tụng:

Kiểm sát viên: Bà Nguyễn Thị Hân - Kiểm sát viên.

- Người tham gia tố tụng khác:

Cán bộ, Chiến sỹ thuộc cơ sở giam giữ: Ông Cầm Văn Duy và ông Hoàng Ngọc Ái.

Ngày 08 tháng 4 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Toà án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La và điểm cầu thành phần phân trại tạm giam Phù Yên, Trại tạm giam Công an tỉnh Sơn La xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 49/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2025/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Cầm Kim T (tên gọi khác: Không), sinh ngày 14 tháng 9 năm 1986 tại huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Tiểu khu X, thị trấn QH, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Đảng phái, đoàn thể: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cầm Văn N (Đã chết) và bà Vũ Thị N, sinh năm 1964; có vợ là Cầm Thị T, sinh năm 1987 và 02 con, con lớn nhất sinh năm 2012, con nhỏ nhất sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 28/12/2012 Công an huyện Phù Yên ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền, mức phạt 1.500.000 đồng về hành vi Đánh bạc (Đã hết thời hiệu được coi là không có tiền sự). Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/01/2025 đến nay - Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 10 giờ 35 phút, ngày 09/01/2025 tổ công tác Công an thị trấn Phù Yên chủ trì phối hợp với tổ bảo vệ An ninh trật tự tiểu khu Y, thị trấn Phù Yên, huyện Phù Yên làm nhiệm vụ tại khu vực tiểu khu X, thị trấn Phù Yên phát hiện bị cáo Cầm Kim T đang đi bộ có biểu hiện nghi vấn tàng trữ trái phép chất ma tuý. Tổ công tác yêu cầu có cất giấu ma tuý hoặc vật cấm trong người thì tự nguyện giao nộp. Bị cáo tự nguyện lấy 01 gói chất bộ mầu trắng nghi là ma tuý Heroine, bên ngoài gói bằng túi ni lon màu hồng đang cầm ở trong lòng bàn tay trái giao nộp cho tổ công tác. Bị cáo khai nhận đây là ma tuý Heroine mục đích cất giấu là để sử dụng. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng theo quy định.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 (một) gói nilon màu hồng bên trong chứa chất bột màu trắng.

Quá trình điều tra, bị cáo Cầm Kim T khai nhận: Khoảng 09 giờ ngày 09/01/2025, bị cáo đi bộ lên khu vực tiểu khu X, thị trấn Phù Yên, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La để đón con học tại Trường tiểu học Thị trấn, do chưa đến giờ tan học nên bị cáo đi bộ quay về theo đường dân sinh thuộc Tiểu khu X, thị trấn Phù Yên thì gặp một người đàn ông đang đi bộ, tự giới thiệu tên H, ở Tiểu khu X, thị trấn Phù Yên. Qua nói chuyện và hỏi mua được 01 gói Heroine được gói bằng nilon màu hồng của H với giá 500.000 đồng. Mua được ma túy, Bị cáo Cầm T cầm ma tuý ở tay trái rồi đi bộ về nhà, mục đích để sử dụng cho bản thân. T đi bộ được một đoạn thì bị Tổ công tác Công an thị trấn Phù Yên, huyện Phù Yên kiểm tra, phát hiện bắt quả tang.

Ngày 09/01/2025, cơ quan CSĐT Công an huyện Phù Yên phối hợp với các cơ quan liên quan tiến hành cân tịnh xác định khối lượng chất bột màu trắng nghi là Heroine, thu giữ của Cầm Kim T là 0,167 gam, lấy toàn bộ làm mẫu gửi giám định ký hiệu T1.

Cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phù Yên ra Quyết định trưng cầu giám định số 23/QĐ-ĐTTH trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La giám định chất ma túy vật chứng của vụ án.

Tại Bản kết luận giám định số 233/KL-KTHS ngày 13/01/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu T1 là ma túy; Loại Heroie; Khối lượng của mẫu gửi giám định 0,167gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,167gam; Loại Heroine. Mẫu đã sử dụng hết trong quá trình giám định.”

Cáo trạng số: 13/CT-VKSPY ngày 10/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên truy tố bị cáo Cầm Kim T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Cầm Kim T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và đề nghị áp dụng các căn cứ pháp luật xử phạt bị cáo như sau:

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Cầm Kim T từ 13 (Mười ba) tháng đến 15 (Mười lăm) tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) mảnh nilon màu hồng.

- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 của UBTVQH buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã khai trong quá trình điều tra, không có ý kiến gì tranh luận với vị đại diện Viện kiểm sát, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phù Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo và trách nhiệm hình sự:

Tại phiên tòa, bị cáo vẫn giữ nguyên lời khai tại Cơ quan điều tra, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án. Bị cáo hoàn toàn nhất trí với cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với hành vi phạm tội của bị cáo.

Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 10 giờ 45 phút, ngày 09 tháng 01 năm 2025 tại Tiểu khu X, thị trấn Phù Yên, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản làm việc về việc mở niêm phong, cân tịnh lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng; bản ảnh mở niêm phong, cân tịnh và niêm phong lại vật chứng; kết luận giám định; lời khai của người chứng kiến sự việc và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Ngày 09/01/2025, bị cáo Cầm Kim T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,167 gam Heroine. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, quy định mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm T và nguy hiểm cho xã hội. Hành vi phạm tội của bị cáo xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền chất ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, làm gia tăng các tệ nạn xã hội.

Xét về nhân thân của bị cáo: Bản thân bị cáo đã bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc, đã hết thời hiệu được coi là không có tiền sự, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của ma túy đối với bản thân, gia đình và xã hội nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo cần bị xử lý tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, cần cách ly bị cáo ra ngoài đời sống xã hội một thời gian nhất định là cần thiết, để đảm bảo giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên khi quyết định hình phạt đối với bị cáo cũng cần xem xét, bị cáo phạm tội lần đầu, sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do vậy, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.

Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay thấy rằng: Bị cáo không có tài sản gì riêng có giá trị, không có công việc và thu nhập ổn định, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đối với 01 (một) mảnh nilon màu hồng dùng để gói chất nghi là ma tuý heroin tạm giữ của Cầm Kim T. Xét là những vật không có giá trị sử dụng, do đó cần tịch thu và tiêu hủy.

Về nguồn gốc ma tuý: Bị cáo khai mua của một người đàn ông tên H tự giới thiệu ở Tiểu khu 5, thị trấn Phù Yên. Ngoài lời khai của bị cáo ra không có tài liệu, chứng cứ nào khác để làm rõ nhân thân, lai lịch người này để mở rộng vụ án. Do đó, buộc Cầm Kim T phải chịu trách nhiệm về toàn bộ số ma túy đã bị thu giữ.

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Cầm Kim T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Cầm Kim T 13 (Mười ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/01/2025.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

2. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) mảnh nilon màu hồng đựng trong một phong bì đã được niêm phong gián kín.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản hồi 14 giờ 30 phút, ngày 11 tháng 3 năm 2025 giữa Công an huyện Phù Yên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phù Yên)

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 của UBTVQH buộc bị cáo Cầm Kim T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 08/4/2025).

Cỡ chữ