vanban.org

Bản án 46/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La Tuyên án 17/01/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lường Văn D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lường Văn D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lường Văn D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MAI SƠN
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2025/HS-ST
Ngày 17 – 01 - 2025

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN- TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên toà: Bà Đinh Thị Phương Thúy

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Cầm Văn Tổ

2. Ông Giàng A Lợ

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thảo Nguyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Như Quỳnh - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 53/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 12 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:

LƢỜNG VĂN D. Tên gọi khác: không. Sinh ngày 09/12/1984 tại huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La.

Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi ở: Bản A, xã B, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 05/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lường Văn U (đã chết) và bà Lường Thị M, sinh năm 1966; Bị cáo có vợ là Lường Thị P, sinh năm 1983; Bị cáo có 01 con sinh năm 2004.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/9/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam Công an huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Có mặt tại phiên tòa.

Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Lường Văn N, sinh năm 1989. Địa chỉ: Bản A, xã B, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 40 phút ngày 30/9/2024, sau khi ăn cơm tại lán nương thuộc địa phận thôn 2, Hoàng Văn Thụ, xã Chiềng Ban, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La Lường Văn D điều khiển xe mô tô hiệu ESPERO, biển kiểm soát 27-B1-673.74 đi tìm mua ma túy để sử dụng. Khi đi đến khu vực đường tránh thành phố thuộc thôn 2, Hoàng Văn Thụ, xã Chiềng Ban (cách lán Định ở khoảng 300m), D gặp và mua được của một người đàn ông không quen biết 01 gói Heroine gói bằng mảnh nilon màu hồng với giá 100.000VNĐ. D cầm gói Heroine cất giấu vào túi áo ngực bên trái đang mặc và điều khiển xe đi về gần lán nương để sử dụng thì bị tổ công tác Công an xã Chiềng Ban, huyện Mai Sơn phát hiện bắt quả tang và thu giữ, niêm phong toàn bộ vật chứng.

Ngày 30/9/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn phối hợp với Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh, tr ch rút m u giám định đối với vật chứng thu giữ khi bắt quả tang Lường Văn D. Kết quả: Khối lượng chất bột màu trắng trong gói nilon màu hồng là 0,19gam, lấy toàn bộ làm m u giám định, ký hiệu M.

Tại bản kết luận giám định số 1903/KL-KTHS ngày 03/10/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận:

“Mẫu ký hiệu M gửi giám định là ma tuý; Loại Heroine... khối lượng của mẫu gửi giám định là M = 0,19gam.

Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,19gam; Loại Heroine... ”

Tại bản cáo trạng số 12/CT-VKSMS ngày 30/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn đã truy tố bị cáo Lường Văn D về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo cáo trạng và đề nghị hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố bị cáo Lường Văn D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, xử phạt bị cáo Lường Văn D từ 15 đến 19 tháng tù, thời hạn tù t nh từ ngày 30/9/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Đề nghị căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở, 01 mảnh nilon màu hồng gói ma túy ban đầu được niêm phong theo quy định.

Trả cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – Lường Văn N: 01 xe máy nhãn hiệu ESPERO, màu đen, biển kiểm soát 27B1 – 673-74.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 21, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Miễn án ph hình sự cho bị cáo Lường Văn D.

Bị cáo Lường Văn D tự bào chữa: Nhất tr với nội dung bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo cơ cơ hội cải tạo bản thân.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày ý kiến: Nhất tr với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mai Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân huyện Mai Sơn, Kiểm sát viên, thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tình tiết định tội: Trước cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lường Văn D khai nhận do bản thân nghiện chất ma túy ngày 30/9/2024 bị cáo đã mua 01 gói Heroine với giá 100.000VNĐ và đã bị tổ công tác Công an xã Chiềng Ban, huyện Mai Sơn phát hiện bắt quả tang thu giữ 0,19gam Heroine. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 20 giờ 00 phút ngày 30/9/2024 của Công an xã Chiềng Ban, huyện Mai Sơn; kết luận giám định số 1903/KL-KTHS ngày 03/10/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Sơn La, kết luận tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,19gam loại Heroine. Từ các chứng cứ nêu trên có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Lường Văn D phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:

“1.Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

c) Heroine, cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

..."

Xét tính chất vụ án: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm về hình sự, bị cáo nhận thức rõ được việc tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo v n cố tình mua trái phép chất ma túy hộ người khác và nhằm mục đ ch sử dụng cho bản thân, hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, làm gia tăng tình trạng mua bán, sử dụng trái phép các chất ma túy, cần có mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung.

Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải về việc đã làm nên cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phần nào đối với bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Qua điều tra xác minh và tại phiên tòa xác định bị cáo làm nghề tự do, thu nhập không ổn định; gia đình bị cáo là hộ nghèo, bản thân bị cáo không có tài sản riêng gì có giá trị nên cần miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về vật chứng, xử lý vật chứng:

Đối với tổng số 0,19gam Heroine đã tr ch rút toàn bộ làm m u giám định, không hoàn lại.

Đối với 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở, 01 mảnh nilon màu hồng gói ma túy ban đầu được niêm phong theo quy định: Xét thấy đây là những vật dùng vào việc phạm tội và vật không có giá trị sử dụng nên cần căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự để tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 xe máy nhãn hiệu ESPERO, biển kiểm soát 27B1 - 673.74: xác định đây là tài sản hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – Lường Văn N, anh N không biết việc bị cáo D sử dụng xe để đi mua ma túy; anh N đề nghị được nhận lại chiếc xe nên cần căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự để trả lại cho anh N quản lý và sử dụng.

Về vấn đề khác:

Về nguồn gốc ma túy, bị cáo Lường Văn D khai mua với một người đàn ông không quen biết tại khu vực đường tránh thành phố thuộc thôn 2 Hoàng Văn Thụ, xã Chiềng Ban, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, việc mua bán ma túy không có ai biết, chứng kiến. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn không có căn cứ để điều tra, xác minh mở rộng vụ án, cần chấp nhận.

Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 21; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Bị cáo Lường Văn D là người thuộc hộ nghèo và là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa bị cáo xin được miễn án ph nên cần miễn án ph hình sự cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Tuyên bố bị cáo Lường Văn D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Lường Văn D 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt (ngày 30/9/2024).

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở, 01 mảnh nilon màu hồng gói ma túy ban đầu được niêm phong theo quy định.

Trả cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – Lường Văn N: 01 xe máy nhãn hiệu ESPERO, màu đen, biển kiểm soát 27B1 – 673.74.

(Chi tiết vật chứng theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 16/01/2025 giữa Công an huyện Mai Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mai Sơn).

3. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 21; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Miễn án ph hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lường Văn D.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 17/01/2025).

Cỡ chữ