- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vương Thị H, Tào Văn D - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 46/2025/HS-ST Ngày 29 - 4 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Cao Tiến
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hoàng Văn Bốn
2. Ông Nguyễn Duy Sự
- Thư ký phiên toà: Ông Ma Ngọc Hiếu - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hàm Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Yên tham gia phiên toà: Ông Phạm Trung Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hàm Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 42/2025/TLST-HS, ngày 17 tháng 4 năm 2025; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2025/QĐXXST-HS, ngày 17 tháng 4 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Vương Thị H, tên gọi khác: Không, sinh ngày 13/01/1973, tại tỉnh Tuyên Quang;
Nơi cư trú: Thôn Th, xã B, huyện H, tỉnh Tuyên Quang. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam. Con ông Vương Văn Tr (đã chết); con bà Lê Thị V, sinh năm 1940. Chồng: Nguyễn Văn H1, sinh năm 1968; Con: Có 02 con, lớn sinh năm 1995, nhỏ sinh năm 2003. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.
2. Họ và tên: Tào Văn D, tên gọi khác: Không, sinh ngày 26/12/1979; tại tỉnh Tuyên Quang;
Nơi cư trú: Thôn Th, xã B, huyện H, tỉnh Tuyên Quang. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam. Con ông Tào Quang Ch (đã chết); con bà Vũ Thị Th, sinh năm 1958; Vợ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1982; Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2012. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân:
+ Ngày 12/8/2008, bị Tòa án nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo (thử thách 12 tháng) về tội đánh bạc (Bản án số 39/2008/HSST, đã chấp hành xong).
+ Ngày 04/8/2014, bị Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội Tổ chức đánh bạc (Bản án số 17/HSST, đã chấp hành xong).
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1986; Nơi cư trú: Thôn N, xã B, huyện H, tỉnh Tuyên Quang.
2. Anh Nguyễn Việt H3, sinh năm 1993; Nơi cư trú: Thôn Ch, xã B, huyện H, tỉnh Tuyên Quang.
3. Anh Đặng Văn Th, sinh năm 2000; Nơi cư trú: Thôn 1 A, xã Th, huyện H, tỉnh Tuyên Quang.
4. Ông Nguyễn Văn H4, sinh năm 1973; Nơi cư trú: Thôn Th, xã B, huyện H, tỉnh Tuyên Quang.
5. Ông Vương Văn H5, sinh năm 1979; Nơi cư trú: Thôn Th, xã B, huyện H, tỉnh Tuyên Quang.
6. Ông Vương Toàn H6, sinh năm 1964; Nơi cư trú: Thôn Th, xã B, huyện H, tỉnh Tuyên Quang.
7. Anh Phạm Văn C, sinh năm 1989; Nơi cư trú: Thôn Th, xã B, huyện H, tỉnh Tuyên Quang. (Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đầu tháng 02/2025, Vương Thị H, cư trú tại thôn Th, xã B, huyện H, tỉnh Tuyên Quang, trong quá trình kinh doanh bán phân bón, cây trồng tại nhà, H thấy có nhiều người khách hàng nói chuyện về việc chơi lô đề và tìm cho mua số lô, số đề nên H đã nảy sinh ý định làm chủ đề để bán số lô, số đề trái phép cho người chơi nhằm thu lợi bất chính. Hình thức chơi: Đối với số đề 02 số, 03 số (ba càng) người chơi mua 02 hoặc 03 số bất kỳ và căn cứ vào 02 số cuối hoặc 03 số cuối của giải đặc biệt kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng cùng ngày để xác định thắng thua, nếu trùng với 02 số cuối giải đặc biệt thì người chơi thắng, người bán phải trả gấp 70 lần số tiền người chơi bỏ ra mua, nếu trùng với 03 số cuối giải đặc biệt thì người chơi thắng, người bán phải trả gấp 350 lần số tiền người chơi bỏ ra mua, nếu không trùng người chơi thua thì người bán được hưởng toàn bộ số tiền mà người chơi đã bỏ ra mua số đề đó. Đối với số lô là hình thức người chơi mua hai số tự nhiên bất kỳ, rồi so sánh với 02 số cuối cùng của tất cả các giải (27 giải) kết quả xổ số, một điểm lô có giá 23.000 đồng, nếu trùng với hai số cuối cùng của một trong các giải kết quả xổ số thì người chơi thẳng, cứ trúng một điểm lô người chơi được trả số tiền 80.000 đồng, nếu không trúng thì người bán được hưởng toàn bộ số tiền người chơi đã bỏ ra mua số lô đó; lô xiên 2 hoặc lô xiên 3 là việc người chơi có thể mua 2 hoặc 3 ba số lô bất kỳ và so sánh với 2 số cuối cùng tất cả các giải xổ số, nếu 2 hoặc 3 cặp số lô đó đều trùng với kết quả xổ số thì người chơi thắng, nếu trúng lô xiên 2 thì người bán phải trả gấp 10 lần số tiền người chơi bỏ ra mua, nếu trúng lô xiên 3 thì người bán phải trả gấp 40 lần số tiền người chơi bỏ ra mua, nếu không trùng thì người bán được hưởng toàn bộ số tiền của người chơi bỏ ra mua số lô xiên. Sau đó H đã bán số lô, số đề cho nhiều người vào các ngày 10/02/2025 và ngày 20/02/2025, cụ thể như sau:
Lần 1: Hồi 17 giờ 37 phút ngày 10/02/2025, Tào Văn D, sinh năm 1979, trú tại thôn Th, xã B, huyện H, tỉnh Tuyên Quang sử dụng tài khoản Zalo tên "Đức Lâm", đăng ký bằng số điện thoại 0964017299 của D nhắn tin đến tài khoản Zalo của Vương Thị H, đăng ký bằng số điện thoại 0972632037 để mua các số: Lô xiên 3: 44, 12, 24 = 50.000 đồng: 37, 99, 24 = 50.000 đồng: 12, 24, 99 = 50.000 đồng: 12, 10, 24 = 50.000 đồng, tổng là 200.000 đồng: Lô xiên 2: 24, 79 = 100.000 đồng: 22, 46 = 1.400.000 đồng, tổng là 1.500.000 đồng: Số lô 24 = 20 điểm x 23.000 đồng = 460.000 đồng: Số lô 22 = 300 điểm x 23.000 đồng = 6.900.000 đồng: Số lô 46 = 100 điểm x 23.000 đồng = 2.300.000 đồng, tổng là 9.660.000 đồng. Tổng số tiền D mua số lô, số đề của H vào ngày 10/02/2025 là 11.360.000 đồng. H nhắn lại "Ok" (có nghĩa là đồng ý bán). Đối chiếu với kết quả Xổ số miền Bắc mở thường ngày 10/02/2025 thì D không trúng thưởng. Số tiền mua số lô, số đề D đã thanh toán cho H bằng tiền mặt.
Lần 2: Vào ngày 20/02/2025:
Khoảng 16 giờ 30 phút, H đang ở nhà thì Nguyễn Văn H4 ở thôn Th, xã B, huyện H đến mua số đề: 972 = 20.000 đồng. 72= 30.000 đồng, 73 = 50.000 đồng, 973 = 20.000 đồng, H4 đã trả cho H tổng số tiền 120.000 đồng. Do xác định những số đề đã mua nên H4 không yêu cầu Hồi viết cáp đề.
Hồi 16 giờ 31 phút, Vương Văn H5 ở thôn Th, xã B, huyên H sử dụng điên thoại di động nhãn hiệu SamSung vào ứng dụng Zalo tài khoản “Hoàn Gà” (đăng ký bằng số điện thoại 0936022343 của H5) nhắn tin đến tài khoản Zalo của H để mua số lô: 22 = 10 điểm; số lô: 18, 81 mỗi số 05 điểm (tổng là 20 điểm x 23.000 đồng = 460.000 đồng), thì H nhắn lại “Ok” (có nghĩa là đồng ý bán). Số tiền mua số lô trên H5 đã trừ vào số tiền H nợ của H5 (1.240.000 đồng).
Hồi 17 giờ, Vương Toàn H6, sinh năm 1964, trú tại thôn Th, xã B, huyện H, tỉnh Tuyên Quang sử dụng tài khoản Zalo tên “ Hiệu Xuân1”(tên vợ của H6), đăng ký số điện thoại 0971417831 của H6 nhắn tin đến tài khoản Zalo của H để mua số đề: 54 = 400.000 đồng; 45, 90, 09 mỗi số 50.000 đồng, tổng là 550.000 đồng. Sau khi nhận được tin nhắn mua số đề của H6 thì H nhắn lại “Ok”. Số tiền mua số đề trên H6 chưa thanh toán cho H. Sau đó H6 tiếp tục nhắn cho H để mua số lô 11: 20 điểm x 23.000 đồng = 460.000 đồng; số đề: 11, 66 mỗi số 50.000 đồng, nhưng H không nhắn tin lại (không nhận mua số lô, số đề này).
Hồi 17 giờ 02 phút, Nguyễn Văn T ở thôn N, xã B, huyện H sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A78 vào ứng dụng Zalo tài khoản “Tuấn Sáo” (đăng ký bằng số điện thoại 0363855238 của T) nhắn tin đến tài khoản Zalo của H để mua số lô: 01, 76, 67 mỗi số 20 điểm (tổng là 60 điểm x 23.000 đồng = 1.380.000 đồng); số đề: 67, 76, 79, 579, 079, 076, 067 mỗi số 50.000 đồng (tổng là 350.000 đồng); Đề đầu 7 (10 số từ số 70 đến số 79) mỗi số 200.000 đồng (tổng là 2.000.000 đồng). H nhắn lại “Ok” (có nghĩa là đồng ý bán). Tổng số tiền T mua số lô, số đề là 3.730.000 đồng, (T chưa thanh toán tiền cho H).
Hồi 17 giờ 16 phút, Phạm Văn C ở thôn Th, xã B, huyện H sử dụng điện thoại nhãn hiệu Xeomi POCO vào ứng dụng Zalo tài khoản “Công Ve” (đăng ký bằng số điện thoại 0981402882 của C) nhắn tin đến tài khoản Zalo của H mua số lô xiên 3: 26, 24, 82 = 120.000 đồng. H nhắn lại “Ok” (có nghĩa là đồng ý bán). Số tiền mua số lô xiên trên C chưa thanh toán cho Hồi.
Khoảng 17 giờ 30 phút, Nguyễn Việt H3 ở thôn Ch, xã B và Đặng Văn Th ở thôn 1 A, xã Th, huyện H đến nhà H để mua bán số lô, số đề. H3 mua số lô: 27, 72, 79, 97 mỗi số 50 điểm (tổng là 200 điểm x 23.000 đồng = 4.600.000 đồng). H viết các số lô trên vào một mảnh giấy đưa cho H3 giữ để đọ thưởng. H3 đã thanh toán 4.600.000đ cho H bằng hình thức chuyển khoản (từ tài khoản Ngân hàng ViettelPay số 9704229208091059974 của H3 đến tài khoản Ngân hàng Vietinbank số 102002841819 của H). Th mua số lô: 56, 65 mỗi số 25 điểm (tổng là 50 điểm x 23.000đ = 1.150.000đ). H viết các số lô vào một mảnh giấy đưa cho Th giữ để đọ thưởng, Th thanh toán cho H số tiền 1.150.000 đồng.
Khi H3 và Th vừa ghi số lô, số đề với H xong thì Tổ công tác của Công an tỉnh Tuyên Quang phát hiện và lập biên bản sự việc, tại thời điểm phát hiện chưa có kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc. Tổng số tiền Vương Thị H bán số lô, số đề trái phép vào ngày 20/02/2025 là 10.730.000 đồng.
Từ nội dung trên, tại bản cáo trạng số 32/CT-VKSTQ-P2 ngày 15/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang đã truy tố các bị cáo Vương Thị H, Tào Văn D về tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo theo tội danh, điều luật và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vương Thị H, Tào Văn D phạm tội Đánh bạc. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58, Điều 38, Điều 65 Bộ luật hình sự: Đề nghị xử phạt bị cáo Vương Thị H từ 01(một) năm 03 (ba) tháng đến 01(một) năm 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo; thử thách từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm. Đề nghị xử phạt bị cáo Tào Văn D từ 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo; thử thách từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS. Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu sung quỹ nhà nước của bị cáo H số tiền 17.690.000đ, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung Galaxy A53 5G của bị cáo D; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPP A78 của Nguyễn Văn T.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo cho các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khai tại quá trình điều tra phù hợp lời khai của các bị cáo và phù hợp nội dung vụ án.
Kết thúc phần tranh luận, các bị cáo nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát và không có ý kiến tranh luận gì, các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử mức án thấp nhất và cho hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Tuyên Quang, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, thực hiện việc xét hỏi đúng quy định tại các điều 289, 306, 320, 321, 322 Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Căn cứ lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa; lời khai của các đối tượng liên quan trong quá trình điều tra, căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Các tài liệu, chứng cứ phù hợp với nhau, có đủ cơ sở kết luận: Trong các ngày 10/02/2025 và ngày 20/02/2025, bị cáo Vương Thị H, cư trú tại thôn Th, xã B, huyện H, tỉnh Tuyên Quang đã thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức bán số lô, số đề cho Tào Văn D, cư trú tại thôn Th, xã B, huyện H và một số người chơi khác, cụ thể:
Lần 1: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 10/02/2025, H bán Lô xiên 3: 44, 12, 24, 37, 99, 24, 12, 24, 99, 12, 10, 24; Lô xiên 2: 24, 79, 22, 46; Số lô 24, 22, 46 cho D với tổng số tiền là 11.360.000đ (D đã trả tiền cho H). Đối chiếu với kết quả Xổ số miền Bắc mở thưởng ngày 10/02/2025, D không trúng thưởng.
Lần 2: Khoảng 16 giờ 30 phút đến 17 giờ 30 phút, ngày 20/02/2025, Vương Thị H đã bán số lô, số đề qua tin nhắn cho Nguyễn Văn H4 số đề: 972, 72, 73, 973 với tổng số tiền 120.000 đồng; bán cho Vương Văn H5 số lô: 22, 18, 81 với tổng số tiền 460.000 đồng; bán cho Vương Toàn H6 số đề: 54, 45, 90, 09 với tổng số tiền 550.000 đồng; bán cho Nguyễn Văn T số lô: 01, 76, 67; số đề: 67, 76, 79, 579, 079, 076, 067 với tổng số tiền 3.730.000 đồng; bán cho Phạm Văn C số lô xiên 3: 26, 24, 82 với tổng số tiền 120.000 đồng; bán cho Nguyễn Việt Hà số lô: 27, 72, 79, 97 với tổng số tiền 4.600.000 đồng và bán cho Đặng Văn Th số lô: 56, 65 với tổng số tiền 1.150.000 đồng. Tổng số tiền Vương Thị H bán số lô, số đề trái phép cho Hà, Thuận, Tuấn, Hoàn, Hiệu, Hậu và Công ngày 20/02/2025 là 10.730.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo Vương Thị H bán số lô, số đề trái phép vào các ngày 10/02/2025 và ngày 20/02/2025 là 22.090.000đ. Do vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang truy tố bị cáo Vương Thị H, Tào Văn D về tội đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan.
Về tính chất, mức độ hành vi: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng, gây mất trật tự trị an ở địa phương và gây sự bất bình trong quần chúng nhân dân. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực pháp luật và nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích vụ lợi, muốn có thu nhập từ việc đánh bạc mà các bị cáo đã thực hiện hành vi mua bán số lô, số đề trái phép, vi phạm pháp luật, do vậy cần xử phạt các bị cáo mức án nghiêm minh, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân các bị cáo: Trong vụ án này, các bị cáo phạm tội manh tính chất đồng phạm giản đơn, không có tổ chức, trong đó bị cáo H là người bán số lô, số đề, bị cáo D và các đối tượng khác là người mua số lô, số đề trái phép.
Bị cáo Vương Thị H có tình tiết tăng nặng là phạm tội 02 lần trở lên, bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là trong quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có bố đẻ là ông Vương Văn Tr được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhất; tại phiên tòa bị cáo xuất trình phiếu thu ủng hộ số tiền 1.500.000 đồng cho Mặt trận tổ quốc xã Bình Xa năm 2024, 2025 có xác nhận của chính quyền địa phương. Đó là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo Tào Văn D không có tình tiết tăng nặng, có nhân thân xấu, có tình tiết giảm nhẹ đó là trong quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có bố là ông Tào Quang Ch được tặng thưởng Huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng Ba; tại phiên tòa bị cáo xuất trình phiếu thu ủng hộ số tiền 1.000.000 đồng cho Mặt trận tổ quốc xã Bình Xa năm 2025, có xác nhận của chính quyền địa phương. Đó là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Căn cứ điểm a khoản 2 Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.
Hội đồng xét xử xét thấy, các bị cáo có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, bị cáo Hồi có nhân thân tốt; các bị cáo chấp hành tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước, tích cực làm công tác thiện nguyện như ủng hộ quỹ vì người nghèo của địa phương. Do vậy để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật, xét thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, cho các bị cáo được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục các bị cáo trở thành người công dân tốt và phòng ngừa tội phạm nói chung. Giao các bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã nơi các bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo không có tài sản riêng có giá trị, do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền).
Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo H 1.150.000đ, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus; thu của bị cáo Dũng 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung Galaxy A53 5G ; thu của Nguyễn Văn T 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPP A78. Ngày 20/3/2025, bị cáo H tự nguyện giao nộp 16.540.000đ. Xét thấy đây là số tiền đánh bạc trái phép, điện thoại sử dụng vào việc giao dịch đánh bạc nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
Đối với hành vi đánh bạc của Vương Văn Hoàn, Vương Toàn Hiệu, Phạm Văn Công, Nguyễn Văn Tuấn, Nguyễn Văn Hậu, Nguyễn Việt Hà và Đặng Văn Thuận, do hành vi không cấu thành tội phạm. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Tuyên Quang đã ra văn bản số 233/CSHS-Đ3 ngày 06/3/2025 chuyển tài liệu xử phạt vi phạm hành chính theo quy định. Ngày 12/3/2025, Trưởng phòng Cảnh sát hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang đã ra các Quyết định số 25,26,27, 28, 29, 30, 31/QĐ-XP xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền là đúng theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định và có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Về tội danh và hình phạt:
Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Vương Thị H, Tào Văn D phạm tội “Đánh bạc”.
Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 và Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Vương Thị H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 02(hai) năm 06(sáu) tháng; thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 29/4/2025.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 và Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Tào Văn D 09 (chín) tháng tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 01(một) năm 06 (sáu) tháng; thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 29/4/2025.
Giao bị cáo Vương Thị H, Tào Văn D cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện H, tỉnh Tuyên Quang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
Trong thời gian thử thách, nếu các bị cáo Vương Thị H, Tào Văn D cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68, khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
2. Vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS. Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 17.690.000đ (Mười bảy triệu sáu trăm chín mươi nghìn đồng) của bị cáo H. Toàn bộ số tiền này hiện đang gửi tại tài khoản số 3949.0.1064845.000000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang. Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus của bị cáo H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung Galaxy A53 5G của bị cáo D; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPP A78 của Nguyễn Văn T. Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 18/4/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Tuyên Quang và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQHH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016. Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND huyện H; - Công an tỉnh Tuyên Quang; - Sở Tư pháp tỉnh Tuyên Quang; - Chi cục T.H.A DS huyện H; - Bị cáo, người tham gia tố tụng khác; - Lưu hồ sơ vụ án. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Hoàng Cao Tiến |