vanban.org

Bản án 46/2025/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 28/07/2025 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 28/07/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Biện Văn B phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Biện Văn B 24 (Hai mươi tư) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 48 (Bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo Biện Văn B cho UBND xã H, tỉnh Hà Tĩnh và Công an xã H, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Biện Văn B phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2025/HS-PT
Ngày: 28-7-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hồ Đức Quang

Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Thu Hiền

Ông Nguyễn Khắc Hoàn

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thảo Chi – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Trang- Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 7 năm 2025, tại Hội trường Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 52/2025/HS-PT ngày 05/6/2025 do có kháng cáo của bị cáo Biện Văn B đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 17/2025/HS-ST ngày 21/04/2025 của Tòa án nhân dân huyện Hương Khê (nay là Toà án nhân dân khu vực 4), tỉnh Hà Tĩnh.

1. cáo có kháng cáo: Họ và tên: Biện Văn B, sinh ngày 02/8/1994; nơi sinh: Xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Thôn G, xã H, huyện H (nay là xã H), tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn Giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; chức vụ Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; con ông Biện Văn P, sinh năm 1968 và con bà: Nguyễn Thị X, sinh năm 1970; A, chị, em ruột: Có 03 người, bị cáo là con thứ hai; Vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất nhập cảnh từ ngày 27/12/2024 đến nay. Bị cáo có mặt.

2. hại: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1978; địa chỉ: Thôn T, xã L, huyện H (N là xã H), tỉnh Hà Tĩnh (đã chết).

Người đại diện hợp pháp của bị hại anh Nguyễn Văn T: Chị Nguyễn Thị K, sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn T, xã L, huyện H (N là xã H), tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt.

Trong vụ án này còn có một số người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng nhưng không liên quan đến nội dung cáo cáo của bị cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 09/10/2024, Biện Văn B, có Giấy phép lái xe hạng A1 số 400152037309 ngày 21/10/2015, có giá trị không thời hạn, nhưng đã bị mất, điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 38B1-197.17 của ông Biện Văn P là cha của B, đi từ nhà đến quán “Công Hùng” tại tổ dân phố A, thị trấn H ăn, uống rượu cùng với chị Nguyễn Thị H, anh Nguyễn Văn M, anh Hoàng Nghĩa H1, chị Hoàng Thị Thu H2, chị Nguyễn Thị H3. Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, B cùng với anh H1, chị H3, chị H2 và anh Trần Văn N đến quán T2, ở thôn C, xã P, huyện H ăn cháo. Sau khi ăn xong, Biện Văn B điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 38B1-197.17 đi từ quán về nhà của mình ở thôn G, xã H, huyện H theo đường Q. Đến khoảng 23 giờ 20 phút cùng ngày, B điều khiển xe mô tô đến khu vực cầu L, thì B cảm thấy buồn nôn, khi đi đến Km 428+249,1 đường Q, đoạn thuộc thôn T, xã L, huyện H, tại vị trí nằm giữa cầu L, B dừng xe ở làn bên phải theo chiều đi của mình, theo hướng thị trấn H đi xã L. Lúc này, B ngồi trên xe, gạt chân chống bên trái xuống để chống xe, tắt máy không bật đèn chiếu sáng và đèn xi nhan để cảnh báo rồi nghiêng người sang trái nôn. Sau khi nôn xong, do thấy mệt trong người nên B vẫn ngồi trên xe mô tô để nghỉ. Cùng thời điểm này, anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1978, trú tại thôn T, xã L, huyện H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 38F5-6639 không có Giấy phép lái xe theo quy định đi cùng chiều đến đâm vào phía sau xe mô tô của Biện Văn B. Sau va chạm, Biện Văn B, anh Nguyễn Văn T cùng hai phương tiện đều ngã xuống mặt cầu L, Biện Văn B đứng dậy đỡ xe mô tô biển kiểm soát 38B1-197.17 dậy, quan sát thấy anh Nguyễn Văn T nằm im bất động trên cầu nên hoảng sợ lấy chiếc mũ bảo hiểm của anh T bị văng ra gần đó đội lên đầu rồi điều khiển xe mô tô bỏ chạy khỏi hiện trường đi về nhà của mình. Đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, chị Nguyễn Thị N1, trú tại thôn T, xã L, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh đi chơi về qua cầu L, thấy anh Nguyễn Văn T cùng xe mô tô biển kiểm soát 38F5-6639 bị ngã giữa cầu, nghi bị tai nạn giao thông nên chị N1 đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H trình báo sự việc. Sau khi lực lượng chức năng đến hiện trường thì phát hiện anh Nguyễn Văn T đã chết. Đến 14 giờ 05 phút ngày 10/10/2024, Biện Văn B đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đầu thú, khai nhận về hành vi phạm tội của mình.

Kết quả khám nghiệm hiện trường phản ánh: Hiện trường vụ tai nạn giao thông đường bộ được xác định tại Km 428+249,1 đường Q, thuộc xã L, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Hiện trường nằm trên cầu L, thuộc địa phận thôn T, xã L, huyện H. Cầu Lộc Y có đường Quốc Lộ 15 đi qua, mặt cầu bằng phẳng, rộng 7,2m. Giữa có vạch kẻ sơn màu vàng, nét liền, hai bên mép cầu có vạch kẻ sơn màu trắng, nét liền chia cầu thành hai phần cho hai chiều xe chạy, mỗi phần đường rộng 3,6m. Ngoài mép cầu có lan can bê tông cao 0,5m, trên lan can có hàng rào bảo vệ bằng kim loại cao 0,6m. Phía Đông hiện trường hướng đi xã L, phía Tây hiện trường hướng đi thị trấn H.

Kết quả khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn xe mô tô biển kiểm soát 38F5-663 phản ánh: Phần bên trái ốp tay lái phía trước bị nứt vỡ, trượt xước nhựa, kích thước 25cm x 14cm, chiều hướng từ trước ra sau, từ phải qua trái, tâm dấu vết cách mặt đất 92cm. Đèn xi nhan phía trước bên trái bị nứt vỡ kích thước 13cm x 6cm, không xác định được chiều hướng. Đầu mút tay lái bên trái bị mài trượt cao su, kích thước 3cm x2cm, chiều hướng từ trước ra sau, tâm dấu vết cách mặt đất 97cm. Phần bên phải mặt nạ bị nứt vỡ, trượt xước, bám dính chất màu trắng, dạng sơn, kích thước 13cm x 6cm, chiều hướng từ trước ra sau, tâm dấu vết cách mặt đất 82cm. Góc phía trước, bên phải ốp yếm bị nứt vỡ, trượt xước nhựa, tâm dấu vết cách mặt đất 80cm. Ốp giảm xóc phía trước bên phải bị trượt xước, kích thước 13cm x8cm, chiều hướng từ trước ra sau, tâm dấu vết cách mặt đất 55 cm. Giảm xóc phía trước bên phải bị trượt xước, kích thước 9cm x 4cm, chiều hướng từ trước ra sau, tâm dấu vết cách mặt đất 41cm. Ốp nhựa bên phải lốc máy bị nứt vỡ, trượt xước nhựa, kích thước 13cm x10cm, chiều hướng từ trước ra sau, tâm dấu vết cách mặt đất 30cm. Phần bên phải lốc máy bị trượt xước, kích thước 11cm x 5cm, chiều hướng từ trước ra sau, tâm dấu vết cách mặt đất 32cm. Chân phanh bị cong gập theo chiều hướng từ trước ra sau. Giá để chân phía trước bên phải bị cong gập theo chiều hướng từ trước ra sau, trên bề mặt có dấu vết trượt xước, kích thước 19cm x 5cm, tâm dấu vết cách mặt đất 26cm. Giá để chân phía trước bên trái bị mài trượt kim loại, cao su kích thước 6cm x 3cm. Giá để chân phía sau bên trái bị mài trượt kim loại, kích thước 3cm x 2,5cm. Tay nâng phía sau yên xe bị gãy bung rời khỏi vị trí ban đầu. Ốp sườn bên trái thân xe bị bung rời khỏi phương tiện. Yên xe bị xô lệch so với vị trí ban đầu.

Hệ thống kỹ thuật an toàn phương tiện: Phanh tay, phanh chân, lốp bánh trước, lốp bánh sau, bộ phận điều khiển hoạt động bình thường; đèn pha trước, đèn xi nhan, còi, không nổ được máy nên không kiểm tra được.

Kết quả khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn xe mô tô biển kiểm soát 38B1-197.17 phản ánh: Ốp phía trước tay lái bị mài trượt nhựa, kích thước 48cm x 13cm, chiều hướng từ trái sang phải, tâm dấu vết cách mặt đất 100 cm. Giá gương chiếu hậu bên trái bị mài trượt kim loại, bám dính chất màu trắng, kích thước 8cm x 3cm, chiều hướng không xác định, tâm dấu vết cách mặt đất 103cm. Đèn xi nhan phía trước bên phải bị nứt vỡ, trượt xước nhựa, kích thước 8cm x 4cm, chiều hướng từ trước ra sau, từ trái sang phải, tâm dấu vết cách mặt đất 98cm. Đầu mút tay lái bên phải bị mài trượt kim loại, bám dính chất màu trắng, dạng bột đá, kích thước 2cm x 1cm. Đầu mút giá để chân phía trước bên phải bị mài trượt kim loại, cao su, bám dính chất màu trắng dạng bột đá, kích thước 4cm x 3cm, chiều hướng trước ra sau, tâm dấu vết cách mặt đất 30cm. Cánh yếm bên trái, ốp ống yếm, phần bên trái lốc máy bám dính chất bẩn (dạng chất nôn) kích thước 40cm x 38cm. Phần bên trái tay nâng phía sau yên xe bị trượt xước cao su, kích thước 8cm x 4cm, chiều hướng từ sau ra trước, tâm dấu vết cách mặt đất 75cm. Đuôi xe bị nứt vỡ, trượt xước nhựa kích thước 20cm x14cm, chiều hướng từ sau ra trước, tâm dấu vết cách mặt đất 79cm. Đèn xi nhan phía sau bên trái bị nứt vỡ, kích thước 16cm x 7cm, chiều hướng từ sau ra trước, tâm dấu vết cách mặt đất 73cm. Cung sau chắn bùn bánh sau bị nứt vỡ, trượt xước nhựa, kích thước 6cm x 2cm, chiều hướng từ sau ra trước, tâm dấu vết cách mặt đất 60 cm. Phần bên trái ốp bảo vệ biển kiểm soát bị trượt xước, móp méo kim loại, nứt vỡ nhựa, kích thước 6cm x 1,5cm, chiều hướng từ sau ra trước, tâm dấu vết cách mặt đất 58cm. Ốp nhựa bảo vệ biển kiểm soát bị trượt xước, kích thước 19cm x 14cm, chiều hướng không xác định. Cung sau chắn bùn bánh sau bị nứt vỡ nhựa, kích thước 26cm x7cm, chiều hướng không xác định, tâm dấu vết cách mặt đất 50cm. Bánh sau không còn hơi, mặt lăn tại vị trí cách chân van 50cm theo chiều chuyển động tiến của bánh bị thủng cao su, kích thước 0,5cm x 0,1cm. Góc phía sau ốp bảo vệ ống xả bị mài trượt kim loại, kích thước 8cm x 5cm. Giá để chân phía sau bên phải bị mài trượt kim loại, bám dính chất màu trắng (dạng bột đá), kích thước 3cm x 01cm.

Hệ thống kỹ thuật an toàn phương tiện: Phanh tay, phanh chân, đèn pha trước, đèn xi nhan, còi, lốp bánh trước, bộ phận điều khiển hoạt động bình thường; lốp bánh sau hết hơi.

Bản Kết luận giám định số 1215/KL-KTHS ngày 15/10/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh H, kết luận: Nguyên nhân chết của anh Nguyễn Văn T là chấn thương sọ não; Cơ chế hình thành vết thương trên người anh Nguyễn Văn T là do tác động của vật tày gây nên; Chấn thương vùng đầu gây vỡ xương hộp sọ là nguyên nhân chính dẫn đến anh T tử vong.

Bản Kết luận giám định số 1232/KL-KTHS ngày 23/10/2024 của Phòng KTHS Công an tỉnh H, kết luận: Xe mô tô biển kiểm soát 38F5-6639 và xe mô tô biển kiểm soát 38B1-197.17 có va chạm với nhau; Vị trí va chạm: Phần bên phải mặt nạ và góc bên phải phía trước, bên phải ốp ống yếm xe mô tô biển kiểm soát 38F5-6639 với đuôi xe và đèn xi nhan phía sau bên trái xe mô tô mang biển kiểm soát 38B1-197.17 là vị trí va chạm giữa hai phương tiện; Hai phương tiện va chạm cùng chiều với nhau; Vị trí va chạm giữa xe mô tô biển kiểm soát 38F5-6639 và xe mô tô biển kiểm soát 381B1-197.17 nằm trên phần đường bên phải đường Quốc lộ 15 thuộc địa phận xã L, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; Không đủ cơ sở kết luận tốc độ của xe mô tô biển kiểm soát 38F5-6639 và xe mô tô biển kiểm soát 38B1-197.17 tại thời điểm xảy ra va chạm; 04 mảnh vỡ nhựa màu trắng, không rõ hình dạng, kích thước lần lượt là 9,5cm x 4cm; 7,5cm x 3cm; 5cm x 2,5cm; 2cm x 2cm được gãy vỡ, rơi ra từ đuôi xe mô tô biển kiểm soát 38B1-197.17.

Bản kết luận định giá tài sản số 03/KL-HĐĐG ngày 07/02/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS thuộc UBND huyện H, kết luận: Phần hư hỏng của xe mô tô biển kiểm soát 38B1-197.17 (tại thời điểm ngày 09/10/2024) trị giá 1.817.000 đồng; Phần hư hỏng của xe mô tô biển kiểm soát 38F5-6639 (tại thời điểm ngày 09/10/2024) trị giá 1.219.667 đồng.

Kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu của anh Nguyễn Văn T ngày 10/10/2024 là 175,4 mg/dl. Kết quả kiểm tra trong hơi thở của Biện Văn B không có nồng độ cồn.

Về vật chứng thu giữ, xử lý: 01 xe mô tô biển kiểm soát 38F5-6639, màu sơn nâu, số khung VPNPCG00424221482, số máy LC150FMG02221373; 01 Mũ bảo hiểm màu xanh, phía bên trái mũ bảo hiểm bị vỡ lộ ra phần xốp màu trắng, mảnh vỡ bị bung rời khỏi mũ bảo hiểm; 04 mảnh vỡ nhựa màu trắng, không rõ hình dạng, kích thước lần lượt là 9,5cm x 4cm; 7,5cm x 3cm; 5cm x 2,5cm; 2cm x 2cm (đều thu giữ tại hiện trường); 01 xe mô tô biển kiểm soát 38B1-197.17, nhãn hiệu Honda, số loại WAVE A, màu Trắng - Đen - Bạc, số khung RLHJA3904HY859501, số máy JA39E0839649. Đối với chiếc mũ bảo hiểm của anh Nguyễn Văn T, sau tai nạn Biện Văn B lấy đội, trên đường bỏ chạy B làm rơi, do không xác định được vị trí nên không thu hồi được.

Quá trình điều tra, xác định: Xe mô tô biển kiểm soát 38F5-6639 được Công an tỉnh H đăng ký chủ sở hữu cho chị Lê Thị T1, sinh năm 1980, trú tại xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh vào năm 2002. Sau khi sử dụng được một thời gian, chị T1 bán lại chiếc xe trên cho anh Nguyễn Văn T, quá trình mua bán không làm thủ tục sang tên theo quy định; Xe mô tô biển kiểm soát 38B1-197.17 được Công an tỉnh H đăng ký chủ sở hữu cho ông Biện Văn P, tại xóm G, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh là cha của Biện Văn B vào ngày 23/01/2019. Ngày 09/10/2024 Biện Văn B tự ý lấy chiếc xe trên sử dụng làm phương tiện đi lại ông P không biết, thì đã xảy ra tai nạn.

Sau khi làm rõ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã trả lại xe mô tô biển kiểm soát 38F5-6639 cho chị Nguyễn Thị K trú tại thôn T, xã L, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh là vợ của anh T. Trả lại xe mô tô biển kiểm soát 38B1-197.17 và 04 mảnh nhựa bị vỡ rơi ra từ xe mô tô biển kiểm soát 38B1-197.17 cho ông Nguyễn Văn P1 theo quy định. 01 mũ bảo hiểm màu xanh D, trên vành mũ và phía sau mũ bảo hiểm có dòng chữ “BÌNH THỦY” là tài sản của Biện Văn B sử dụng trước khi gây ra tai nạn nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho B.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi tai nạn xảy ra, bị can Biện Văn B đã tự nguyện bồi thường chi phí mai táng và tổn thất về tinh thần cho gia đình bị hại anh Nguyễn Văn T số tiền 120.000.000 đồng. Nay đại diện gia đình bị hại (chị Nguyễn Thị K) không có yêu cầu gì thêm và có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị can Biện Văn B.

Tại Bản án sơ thẩm số 17/2025/HS-ST ngày 21/4/2025 của Tòa án nhân huyện Hương Khê (nay là Toà án nhân dân khu vực 4), tỉnh Hà Tĩnh: Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 260; khoản 1 Điều 38 điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 6, khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Biện Văn B phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Biện Văn B 24 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành án.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.

Ngày 28/4/2025, bị cáo Biện Văn B kháng cáo xin được hưởng án treo.

Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi phân tích, đánh giá các tình tiết của vụ án đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Biện Văn B, sửa bản án sơ thẩm số 17/2025/HS-ST ngày 21/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện Hương Khê (nay là Toà án nhân dân khu vực 4), tỉnh Hà Tĩnh, xử phạt Biện Văn B 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng tình từ ngày tuyên án phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Kháng cáo của bị cáo trong hạn luật định nên hợp lệ được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản kiểm tra phương tiện và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, do đó có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 09/10/2024, Biện Văn B có giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 38B1-197.17 đi từ thị trấn H về nhà của mình ở xóm G, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Khi đi đến cầu L, tại Km 428+249,1 đường Q, thuộc địa phận thôn T, xã L, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh, đã dừng xe giữa cầu, ở làn bên phải xe chạy nhưng không có tín hiệu đèn hoặc cảnh báo nguy hiểm nên dẫn đến anh Nguyễn Văn T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 38F5-6639 đi cùng chiều tới đâm từ phía sau xe của B. Hậu quả, anh Nguyễn Văn T chấn thương sọ não tử vong tại hiện trường, xe mô tô Biển kiểm soát 38F5-6639 và xe mô tô biển kiểm soát 38B1-197.17 bị hư hỏng. Sau tai nạn Biện Văn B điều khiền xe mô tô biển kiểm soát 38B1-197.17 bỏ trốn. Đến ngày 10/10/2024, B đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đầu thú. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm c khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét nội dung kháng cáo của bị cáo Biện Văn B, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn giao thông tại địa phương, gây tâm lý hoang mang cho người tham gia giao thông, gây thiệt hại đến tính mạng của người khác, sau khi xẩy ra tai nạn bị cáo bỏ mặc nạn nhân rồi bỏ trốn. Vì vậy, mức hình phạt cấp sơ thẩm xử bị cáo 24 tháng tù là phù hợp.

Tuy nhiên, xét thấy quá trình điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và phiên tòa phúc thẩm bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại; Sau tại nạn bị cáo đã nhận thức đươc hành vi sai phạm nên đã ra đầu thú; bị cáo có ông bà nội là người có công với cách mạng (ông nội là ông Biện Văn L được Bộ xác nhận có thời gian tham gia dân công hỏa tuyến và bà ngoại là bà Nguyễn Thị Q được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhất, Kỷ niệm chương Chiến sỹ Trường Sơn); đại diện gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; ngoài ra xét về yếu tố lỗi trong vụ án người bị hại anh Nguyễn Văn T cũng có một phần lỗi khi điều khiển xe mô tô tham gia giao thông không có giấy phép lái xe theo quy định, trong máu có nồng độ cồn và thiếu chú ý quan sát, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự

Tại cấp phúc thẩm đại diện gia đình bị hại có đơn đề nghị cấp phúc thẩm xét xử cho bị cáo được hưởng án treo; bị cáo đã tự nguyện nộp án phí sơ thẩm, xuất trình xác nhận của của chính quyền địa phương về việc gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần xem xét cho bị cáo khi lượng hình.

Từ những phân tích trên và xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy bị cáo là người có nhân thân tốt, có nơi cứ trú rõ ràng, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà cải biện pháp chấp hành án cho bị cáo được hưởng án treo, để bị cáo được cải tạo giáo dục tại địa phương, có điều kiện giúp đỡ gia đình giảm bớt khó khăn.

. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án, kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí Hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Biện Văn B. Sửa Bản án sơ thẩm số 17/2025/HS-ST ngày 21/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện Hương Khê (nay là Toà án nhân dân khu vực 4), tỉnh Hà Tĩnh, cải biện pháp chấp hành án cho bị cáo:

Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 260; khoản 1 Điều 38 điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54, Điều 65 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Biện Văn B phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Biện Văn B 24 (Hai mươi tư) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 48 (Bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Biện Văn B cho UBND xã H, tỉnh Hà Tĩnh và Công an xã H, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách án treo. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Nếu người được hưởng án treo thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

2. Về án phí: Bị cáo Biện Văn B không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ