vanban.org

Bản án 46/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Hà Thị N. Bà Hà Thị N được ly hôn với ông Sầm Văn H.

[2] Về án phí: Nguyên đơn bà Hà Thị N phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0001817 ngày 24/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An. Bà Hà Thị N đã nộp… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? [1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Hà Thị N. Bà Hà Thị N được ly hôn với ông Sầm Văn H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 10 - NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2025/HNGĐ-ST
Ngày 29 - 12 - 2025
V/v tranh chấp hôn nhân gia đình.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Huyền Anh. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phan Thị Duệ.

2. Bà Lô Thị Hà.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Hải Yến - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 10 - Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Quang Văn Dù - Kiểm sát viên. Ngày 29 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 - Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 128/2025/TLST- HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2025 về tranh chấp hôn nhân gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2025/QĐXX-ST ngày 01 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Bà Hà Thị N, sinh năm: 1974. Địa chỉ cư trú: Bản T, xã Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt. 2. Bị đơn: Ông Sầm Văn H, sinh năm: 1967. Địa chỉ cư trú: bản K, xã Q, tỉnh Nghệ An. Hiện đang chấp hành án tại: Đội 7, K1, trại giam Đ, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn xin ly hôn ngày 27/8/2025 và Biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 27/10/2025, nguyên đơn bà Hà Thị N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Hà Thị N và ông Sầm Văn H đăng ký kết hôn ngày 22/11/2021 tại UBND xã M, huyện Q, tỉnh Nghệ An (nay là xã Q, tỉnh Nghệ An). Trong quá trình chung sống, giữa hai vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu là do ông Sầm Văn H nghiện ma túy và hiện nay đang chấp hành án tại Trại giam Đ về tội danh tàng trữ trái phép chất ma túy. Bà Hà Thị N xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 10 - Nghệ An giải quyết cho bà được ly hôn với ông Sầm Văn H.

Về con chung: Bà Hà Thị N và ông Sầm Văn H không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Bà Hà Thị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bà Hà Thị N vẫn giữ nguyên các yêu cầu như Đơn xin ly hôn và có Đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

Tại bản tự khai ngày 12/11/2025 (có xác nhận của Trại giam Đồng Sơn, tỉnh Quảng Trị), bị đơn ông Sầm Văn H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Nay bà Hà Thị N yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 10 - Nghệ An giải quyết ly hôn thì ông Sầm Văn H đồng ý. Ngoài ra ông Sầm Văn H không trình bày gì thêm.

Về con chung: Bà Hà Thị N và ông Sầm Văn H không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Ông Sầm Văn H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ông Sầm Văn H có Đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt ngày 12/11/2025 (có xác nhận của Trại giam Đồng Sơn, tỉnh Quảng Trị).

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Nghệ An tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Qua kiểm sát quá trình giải quyết thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Nghệ An. Tòa án nhân dân khu vực 10 - Nghệ An đã thụ lý và thu thập các tài liệu chứng cứ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thẩm phán, Thư ký đã tuân thủ các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 71, 72, 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tại phiên toà, nguyên đơn và bị đơn đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt (Đơn đề nghị giải quyết và xét xử vắng mặt của ông Sầm Văn H có xác nhận của Trại tạm Đồng Sơn, tỉnh Quảng Trị). Nên Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho bà Hà Thị N được ly hôn với ông Sầm Văn H. Bà Hà Thị N và ông Sầm Văn H không có con chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Bà Hà Thị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của Pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân khu vực 10 - Nghệ An đã tuân thủ đúng những quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo đơn khởi kiện ngày 27/8/2025, bà Hà Thị N yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Sầm Văn H có địa chỉ cư trú tại: Bản K, xã Q, tỉnh Nghệ An. Căn cứ vào các quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định vụ án là quan hệ pháp luật tranh chấp về ly hôn và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Nghệ An.

Về sự vắng mặt của nguyên đơn, bị đơn: Bà Hà Thị N là nguyên đơn, ông Sầm Văn H là bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt hợp lệ. Nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

Về yêu cầu của đương sự:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Hà Thị N và ông Sầm Văn H kết hôn với nhau vào năm 2021 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc và được UBND xã M, huyện Q, tỉnh Nghệ An (nay là xã Q, tỉnh Nghệ An) cấp giấy chứng nhận kết hôn số 30 ngày 22/11/2021. Do vậy quan hệ hôn nhân giữa bà Hà Thị N và ông Sầm Văn H là hợp pháp.

Bà Hà Thị N trình bày trong thời gian chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do ông Sầm Văn H nghiện ma túy và phải chấp hành án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy trong một thời gian dài. Đây là nguyên nhân dẫn đến tình trạng hôn nhân giữa bà Hà Thị N và ông Sầm Văn H mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được và ông Sầm Văn H cũng đồng ý ly hôn. Nên yêu cầu của bà Hà Thị N xin ly hôn với ông Sầm Văn H là có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Hà Thị N.

Về con chung: Bà Hà Thị N và ông Sầm Văn H không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: Bà Hà Thị N và ông Sầm Văn H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Án phí: Nguyên đơn bà Hà Thị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Xét đề nghị của đại diện viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Nghệ An tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với các quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Xử:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Hà Thị N. Bà Hà Thị N được ly hôn với ông Sầm Văn H.

[2] Về án phí: Nguyên đơn bà Hà Thị N phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0001817 ngày 24/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An. Bà Hà Thị N đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

[3] Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án Dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

[4] Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ