- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Hợp đồng vay tài sản"
- Tòa quyết gì? I. Căn cứ các Điều 463, 466, 468, 357 Bộ luật Dân sự; Điều 91, 95, 98 Luật các Tổ chức tín dụng ngày 16/6/2010 và sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 củ…
- Căn cứ chính? Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂNTHÀNH PHỐ VINHL TỈNHVINH L | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 46/2025/DS-ST Ngày: 17 - 4 - 2025 Tranh chấp: “HĐ thẻ tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH L
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyen Thu T
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Pam Van T
2. Bà Duong Thi P
- Thư ký phiên tòa: Ông Ngo Minh B - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vinh L, tỉnh Vinh L.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh L tham gia phiên tòa: Bà Pham Thuy T - Kiểm sát viên.
Trong ngày 17 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vinh L, tỉnh Vinh L xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 396/2024/TLST-DS, ngày 05 tháng 11 năm 2024 tranh chấp về việc “Hợp đồng thẻ tín dụng”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2025/QĐXXST-DS, ngày 04 tháng 3 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số: 110/2025/QĐST-DS, ngày 24 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín
Trụ sở số 266 - 268, Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường Võ Thị Sáu, Quận 3, Thành Phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo pháp luật:Bà Nguyen Đuc Thach D - Chức vụ: Tổng Giám đốc Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín.
Đại diện ủy quyền của nguyên đơn: Ông Le Van T - Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín - Chi nhánh Vinh L (văn bản ủy quyền số: 4037/2024/QĐ-PC, ngày 27/12/2024)
+ Ông Le Van T ủy quyền cho ông Lê Tuấn Khanh – chức vụ: Phó giám đốc NHTMCP Sài Gòn Thương Tín - Chi nhánh Vinh L (văn bản ủy quyền số: 3524/2023/QĐ-PC, ngày 25/12/2023).
+ Ông Le Van T ủy quyền cho ông Vuong Chi T – Chức vụ: Chuyên viên kiểm soát tuân thủ - Sacombank CN Vinh L (văn bản số 160/2025/GUQ-CNVL, ngày 14/02/2025). Địa chỉ số 35B, Đường 3/2, Phường 1, thành phố Vinh L, tỉnh Vinh L. (vắng mặt theo đơn đề nghị)
2. Bị đơn: Bà Diep Thoai H, sinh năm 1985 (vắng mặt)
Cư trú số 62/39, đường Nguyen Chi T, Phường 5, thành phố Vinh L, tỉnh Vinh L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 03/10/2024 và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, ông Vuong Chi T đại diện ủy quyền nguyên đơn trình bày: Ngày 16/5/2018, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín và bà Diep Thoai H có ký kết hợp đồng thẻ tín dụng số:1074636 bao gồm giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành, sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (các tài liệu này được gọi chung là hợp đồng). Căn cứ vào thu nhập của bà H, Ngân hàng đồng ý cấp 01 thẻ tín dụng số: 356480-1808 với hạn mức 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng). Lãi suất trong hạn 2,5%/tháng với mục đích tiêu dùng cá nhân; lãi suất quá hạn bằng 150% (3,75%/tháng) theo Điều 1.24 ghi trên hợp đồng thẻ tín dụng.
Quá trình giao dịch thẻ từ ngày 22/6/2018 cho đến ngày 22/7/2024, bà H vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 26 bản điều khoản và điều kiện phát hành, sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) nên Ngân hàng đã tạm khóa quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ sang quá hạn (Điều 1.27 và Điều 26 của bản điều khoản và điều kiện phát hành, sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín yêu cầu bà Diep Thoai H phải trả tiền thẻ tín dụng, tính từ ngày quá hạn 22/7/2024 cho đến ngày 17/02/2025, bà H còn nợ tổng số tiền 22.383.594 đồng (trong đó: nợ gốc 17.345.904 đồng; lãi quá hạn 5.037.690 đồng) và phải chịu lãi phát sinh tiếp theo cho đến khi thanh toán xong nợ theo hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đã ký.
- Bị đơn Diep Thoai H vắng mặt các phiên họp hòa giải và công khai chứng cứ: Tòa án đã tống đạt văn bản tố tụng lần nhất cho bà Diep Thoai H vào ngày 06/11/2024 theo thông báo số: 396/TB-TA, ngày 05/11/2024, để tham gia phiên họp công khai chứng cứ và hỏa giải vào ngày 02/12/2024 và tống đạt văn bản tố tụng lần hai vào ngày 22/01/2025 theo thông báo hoãn hòa giải số: 55/TB-TA, ngày 21/01/2025, để tham gia phiên hòa giải vào ngày 17/02/2025; thông báo kết quả công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 07/3/2025 nhưng bà H vắng mặt, không lý do.
Tại phiên tòa sơ thẩm, ông Vuong Chi T vắng mặt theo đơn đề nghị ngày 16/4/2025 kèm theo tài liệu, chứng cứ bản tón tắt sao kê thẻ tín dụng ngày 17/4/2025 và trình bày: Ngân hàng giữ nguyên yêu cầu khởi kiện như trong đơn kiện ngày 03/10/2024, yêu cầu bà H phải trả cho Ngân hàng TMCP Sài gòn Thương Tín từ ngày quá hạn 22/7/2024 đến ngày 17/4/2025 bằng tổng số tiền 23.798.945 đồng (trong đó: nợ gốc 17.345.904 đồng; lãi quá hạn 6.453.041 đồng) và tiếp tục chịu tiền lãi phát sinh tiếp theo cho đến khi thanh toán xong nợ vay theo hợp đồng thẻ tín dụng.
Tại phiên tòa sơ thẩm bà Diep Thoai H vắng mặt, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng phiên tòa sơ thẩm lần thứ nhất vào ngày 07/3/2025 để tham gia phiên tòa ngày 24/3/2025; phiên tòa sơ thẩm lần hai vào ngày 11/4/2025 để tham gia phiên tòa sơ thẩm vào ngày 17/4/2025 nhưng bà H vắng mặt, không có lý do và không có ý kiến phản hồi việc khởi kiện của nguyên đơn.
* Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh L, phát biểu: Về tố tụng, từ khi thụ lý cho đến quyết định đưa vụ án ra xét xử, các trình tự thủ tục tố tụng khác trong quá trình thụ lý, xét xử sơ thẩm đều tuân theo pháp luật quy định.
Về nội dung: Căn cứ Điều 26, 35, 39, 147, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 463, 466 BLDS; Điều 91, 95, 98 Luật các Tổ chức tín dụng ngày 16/6/2010 và sửa đổi bổ sung năm 2017. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà H có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín số tiền còn nợ tổng cộng vốn, lãi là 23.798.945 đồng (Hai mươi ba triệu bảy trăm chín mươi tám nghìn chín trăm bốn mươi lăm đồng) và phải chịu tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận tại hợp đồng thẻ tín dụng. Bà H phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Hợp đồng thẻ tín dụng ký kết giữa một bên chủ thể đăng ký kinh doanh và một bên là cá nhân không có đăng ký kinh doanh, sử dụng tiền vay vào mục đích tiêu dùng nên chưa hội đủ điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự. Vì vậy, quan hệ pháp luật được xác định là hợp đồng dân sự, bị đơn có nơi cư trú tại địa phận thành phố Vinh L. Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì loại việc trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vinh L, tỉnh Vinh L.
- Hợp đồng thẻ tín dụng được xác lập giao dịch dân sự vào ngày 16/5/2018 nên Hội đồng xét xử áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật các Tổ chức tín dụng có hiệu lực ngày 16/6/2010 và sửa đổi bổ sung năm 2017 để giải quyết.
- Bà H đã được tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng vắng mặt không lý do; Nguyên đơn có đơn ngày 16/4/2025, đề nghị xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành phiên tòa sơ thẩm vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo luật định.
. Ngân hàng yêu cầu bà H phải thanh toán số tiền thẻ tín dụng còn nợ tổng cộng 23.798.945 đồng trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ là hợp đồng thẻ tín dụng số: 1074636, ngày 16/5/2018 và bản điều khoản và điều kiện phát hành, sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín; căn cước công dân và sổ hộ khẩu của bà H. Đối với bà H đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt không lý do và cũng không có ý kiến phản hồi thông báo thụ lý vụ án, thông báo kết quả công khai chứng cứ và hòa giải và không đưa ra tài liệu, chứng cứ để chứng minh bảo vệ quyền lợi cho mình nên phải chịu hậu quả theo quy định tại khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự. Vì vậy, các tài liệu chứng cứ do phía Ngân hàng xuất trình thể hiện bà H có ký tên thực hiện các giao dịch thẻ tín dụng với Ngân hàng thông qua các thủ tục nêu trên và Ngân hàng yêu cầu thanh toán số tiền nợ thẻ tín dụng là có cơ sở.
Về mức lãi suất phía Ngân hàng áp dụng với thẻ tín dụng của bà H là phù hợp với quy định tại các Điều 91, 95, 98 Luật các Tổ chức tín dụng ngày 16/6/2010 và sửa đổi bổ sung năm 2017. Tính đến tại thời điểm xét xử sơ thẩm ngày 17/4/2025, bà H còn nợ số tổng 23.798.945 đồng (trong đó: nợ gốc 17.345.904 đồng; lãi quá hạn 6.453.041 đồng) Vì vậy, buộc bà H phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền thẻ tín dụng còn nợ nêu trên cho Ngân hàng là phù hợp Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 357 Bộ luật Dân sự và Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng. Ngoài ra, kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (17/4/2025) cho đến khi thi hành án xong, bà H còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quá hạn các bên thỏa thuận tại hợp đồng thẻ tín dụng số: 1074636 ngày 16/5/2018.
. Về án phí sơ thẩm, do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có căn cứ chấp nhận. Do đó, phía bị đơn phải chịu toàn bộ tiền án phí sơ thẩm dân sự, theo quy định tại Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bà H phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm 1.189.000 đồng.
- Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả toàn bộ tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp 477.000 đồng (Bốn trăm bảy mươi bảy nghìn đồng), theo biên lai số N0 0007379 ngày 31/10/2024 của cơ quan Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Vinh L, cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
I. Căn cứ các Điều 463, 466, 468, 357 Bộ luật Dân sự; Điều 91, 95, 98 Luật các Tổ chức tín dụng ngày 16/6/2010 và sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín.
- Buộc bà Diep Thoai H có nghĩa vụ thanh toán hợp đồng thẻ tín dụng số: 1074636, ngày 16/5/2018 số tiền còn nợ đến tại thời điểm xét xử sơ thẩm (ngày 17/4/2025) bao gồm: tiền nợ gốc 17.345.904 đồng; lãi quá hạn 6.453.041 đồng. Tổng cộng vốn và lãi là 23.798.945 đồng (Hai mươi ba triệu bảy trăm chín mươi tám nghìn chín trăm bốn mươi lăm đồng), cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 17/4/2025) cho đến khi thi hành án xong, bà H còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quá hạn các bên thỏa thuận tại hợp đồng thẻ tín dụng số: 1074636, ngày 16/5/2018.
II. Án phí sơ thẩm: Bà H phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm 1.189.000 đồng (Một triệu một trăm tám mươi chín nghìn đồng)
- Hoàn trả toàn bộ tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp 477.000 đồng (Bốn trăm bảy mươi bảy nghìn đồng), theo biên lai số N0 0007379 ngày 31/10/2024 của cơ quan Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Vinh L, cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín.
Án xử công khai, vắng mặt nguyên đơn và bị đơn. Báo cho các đương sự biết, được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc ngày niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKS.ND cùng cấp; - Tòa án tỉnh; - Cơ quan T.H.A cùng cấp; - Lưu hồ sơ tại Tòa án. | (Đã ký) NGUYEN THU T |