- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Sacombank - Thảo"
- Tòa quyết gì? Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17 tháng 10 năm 2016;
- Căn cứ chính? Luật Phí và lệ phí; Điều 117 Bộ luật Dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 46/2025/DS-ST Ngày: 18-6-2025 V/v tranh chấp về hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Hòa;
Ông Vũ Đình Thu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Duy Mỹ Linh, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Giang – Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 507/2024/TLST–DS ngày 13 tháng 11 năm 2024 về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78/2025/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 5 năm 2025 và và Quyết định hoãn phiên tòa số 62/2025/QĐST-DS ngày 02 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S, địa chỉ: Số B N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lê Thanh L, sinh năm 1989; chức vụ: Chuyên viên kiểm soát rủi ro; địa chỉ: số D đại lộ B, khu A, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 20-5-2025), vắng mặt có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt.
2. Bị đơn: Nguyễn Thị Kim Thái T, sinh năm 1999; nơi cư trú: Tổ G, khu phố L, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 17 tháng 10 năm 2024, bản tự khai và trong quá trình tố tụng, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S là ông Lê Thanh L trình bày:
Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 13/10/2023 được ký giữa Ngân hàng TMCP S - Chi nhánh B và Bà Nguyễn Thị Kim Thái T. Theo đó, ngày 13/10/2023 bà Nguyễn Thị Kim T1 Thảo được ngân hàng cấp hạn mức thẻ tín dụng với số tiền là 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng) với mục đích tiêu dùng, khoản vay không có tài sản đảm bảo.
Đến ngày 06-01-2024 do bà Nguyễn Thị Kim Thái T vi phạm nghĩa vụ thanh toán, theo nội dung đã thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng nêu trên, toàn bộ khoản vay đều đã chuyển nợ quá hạn. Ngân Hàng TMCP S đã nhiều lần trao đổi, làm việc và tạo mọi điều kiện để bà Nguyễn Thị Kim T1 Thảo tìm nguồn tiền thanh toán vốn vay, các khoản lãi phát sinh tại Ngân hàng TMCP S. Nhưng đến thời điểm hiện nay, bà Nguyễn Thị Kim Thái T vẫn không thực hiện thanh toán theo đúng các cam kết với Ngân hàng. Tạm tính đến thời điểm ngày 17 tháng 10 năm 2024, bà Nguyễn Thị Kim Thái T còn nợ Ngân hàng TMCP S số vốn gốc, lãi quá hạn cụ thể như sau: Nợ gốc: 40.000.000 đồng, lãi quá hạn: 14.000.000 đồng. Tổng cộng: 54.000.000 đồng (năm mươi bốn triệu đồng).
Việc cố tình dây dưa, không thực hiện đúng như cam kết của bà Nguyễn Thị Kim Thái T đã làm ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến quyền lợi chính đáng và hợp pháp của Ngân hàng, vì lẽ đó để bảo vệ quyền lợi của mình, Ngân hàng TMCP S kính đề nghị Tòa án Nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương tuyên xử:
Buộc bà Nguyễn Thị Kim Thái T phải có trách nhiệm thanh toán ngay cho Ngân hàng toàn bộ số nợ còn tồn đọng tính đến ngày nộp đơn khởi kiện là 54.000.000 đồng, cụ thể như sau: nợ gốc: 40.000.000 đồng, lãi quá hạn: 14.000.000 đồng. Ngoài ra, bà Nguyễn Thị Kim Thái T còn phải thanh toán cho ngân hàng tiền lãi quá hạn, lãi phạt được tính theo Hợp đồng tín dung (đã nêu) từ ngày 18/10/2024 cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Kim Thái T, được Tòa án triệu tập hợp để lấy lời khai và tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bà T vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bị đơn bà Nguyễn Thị Kim Thái T.
Tại phiên tòa:
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có yêu cầu như sau: Giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và gửi bảng kê tính lãi khách hàng bà Nguyễn Thị Kim T1 Thảo đến ngày 18 tháng 6 năm 2025 như sau: Tổng số nợ còn phải thanh toán của bà Nguyễn Thị Kim Thái T là 68.345.761 đồng, trong đó nợ vốn 40.000.000 đồng, lãi trong hạn 28.345.761 đồng, tiền lãi được tính từ ngày 19-6-2025 và sẽ được tính tiếp cho đến khi giải quyết xong vụ án.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Kim Thái T đã được Toà án triệu tập lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi khai mạc phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành đúng, đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định. Tính đến ngày Tòa án có quyết định đưa vụ án ra xét xử, vụ án còn trong thời hạn chuẩn bị xét xử theo điểm a khoản 1 Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
Về nội dung: Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương nhận định:
Về tố tụng:
Quan hệ pháp luật tranh chấp: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S khởi kiện bà Nguyễn Thị Kim Thái T tranh chấp về hợp đồng tín dụng, do đó quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp về hợp đồng tín dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Thẩm quyền giải quyết của Tòa án: bà Nguyễn Thị Kim Thái T có nơi cư trú tại tổ G, ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương theo quy định tại các Điều 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Sự có mặt của đương sự tại phiên tòa: bị đơn bà Nguyễn Thị Kim Thái T đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên toà nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Xét hợp đồng tín dụng:
Ngày 13/10/2023 Bà Nguyễn Thị Kim Thái T được ngân hàng cấp hạn mức thẻ tín dụng với số tiền là 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng) với mục đích tiêu dùng. Khoản vay không có tài sản đảm bảo. Đến ngày 06/01/2024 do bà Nguyễn Thị Kim Thái T vi phạm nghĩa vụ thanh toán, theo nội dung đã thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng nêu trên, toàn bộ khoản vay đều đã chuyển nợ quá hạn. Ngân hàng TMCP S đã nhiều lần trao đổi, làm việc và tạo mọi điều kiện để Bà Nguyễn Thị Kim T1 Thảo tìm nguồn tiền thanh toán vốn vay, các khoản lãi phát sinh tại Ngân hàng TMCP S. Nhưng đến thời điểm hiện nay, Bà Nguyễn Thị Kim Thái T vẫn không thực hiện thanh toán theo đúng các cam kết với Ngân hàng. Tạm tính đến thời điểm ngày 17 tháng 10 năm 2024 bà Nguyễn Thị Kim T1 Thảo còn nợ Ngân hàng TMCP S số vốn gốc, lãi quá hạn cụ thể như sau: nợ gốc: 40.000.000 đồng; lãi quá hạn: 14.000.000 đồng. Tổng cộng: 54.000.000 đồng (năm mươi bốn triệu đồng). Việc cố tình dây dưa, không thực hiện đúng như cam kết của Bà Nguyễn Thị Kim Thái T đã làm ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến quyền lợi chính đáng và hợp pháp của Ngân hàng, vì lẽ đó để bảo vệ quyền lợi của mình, Ngân hàng TMCP S kính đề nghị Tòa án Nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương tuyên xử: Buộc Bà Nguyễn Thị Kim Thái T phải có trách nhiệm thanh toán ngay cho Ngân hàng toàn bộ số nợ còn tồn đọng tính đến ngày 18 tháng 6 năm 2025 là 68.345.761 đồng, trong đó nợ vốn 40.000.000 đồng, lãi trong hạn 28.345.761 đồng, tiền lãi được tính từ ngày 19-6-2025 và sẽ được tính tiếp cho đến khi giải quyết xong vụ án theo Hợp đồng tín dụng (đã nêu) từ ngày 18/10/2024 cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ.
Quá trình giải quyết vụ án: bị đơn bà T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không tham gia tố tụng, được xem đã từ bỏ quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ, chứng minh và trình bày để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình cũng như không phản đối những tình tiết, sự kiện mà Ngân hàng đưa ra, do đó, Hội đồng xét xử xác định đây là tình tiết không cần phải chứng minh theo khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Hợp đồng tín dụng giữa các bên thể hiện bằng văn bản, nội dung thỏa thuận cụ thể về số tiền vay, thời hạn vay, lãi suất, phương thức trả gốc và lãi, quyền và nghĩa vụ của các bên, tuân thủ quy định về phạm vi hoạt động, lãi suất, các bên có đủ năng lực hành vi dân sự, nội dung thỏa thuận trong hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, do đó hợp đồng tín dụng có hiệu lực pháp luật theo quy định tại Điều 117 của Bộ luật Dân sự; các Điều 90, 91 và điểm a khoản 3 Điều 98 của Luật các Tổ chức tín dụng và phù hợp với Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng.
Bà Nguyễn Thị Kim Thái T vi phạm nghĩa vụ thanh toán, không trả nợ đúng hạn là vi phạm thỏa thuận theo hợp đồng tín dụng đã giao kết. Tại phiên tòa, Ngân hàng yêu cầu bà T phải thanh toán tổng số tiền là 68.345.761 đồng, trong đó nợ vốn 40.000.000 đồng, lãi trong hạn 28.345.761 đồng, tiền lãi được tính từ ngày 19/6/2025 và sẽ được tính tiếp cho đến khi giải quyết xong vụ án là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại khoản 2 Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng
Ngân hàng Thương mại Cổ phần S yêu cầu bà T trả tiền lãi phát sinh theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 13/10/2023 được ký giữa Ngân hàng TMCP S - Chi nhánh B và Bà Nguyễn Thị Kim Thái T, kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ. Xét, yêu cầu của Ngân hàng là phù hợp nội dung “...kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay” được quy định tại Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17 tháng 10 năm 2016 và được công bố theo quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17 tháng 10 năm 2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Từ các phân tích nêu trên, xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về nội dung vụ án là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Nguyên đơn Ngân hàng không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, bị đơn bà Nguyễn Thị Kim Thái T phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39, khoản 2 Điều 92, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, các Điều 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Các Điều 117, 295, 298, 299, 301, 317, 318, 319, 320, 323, 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Các Điều 90, 91, khoản 2 Điều 95, điểm a khoản 3 Điều 98 của Luật các Tổ chức tín dụng;
Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17 tháng 10 năm 2016;
Luật Phí và Lệ phí; khoản 2 Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án,
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S với bị đơn bà Nguyễn Thị Kim T1 Thảo về việc tranh chấp về hợp đồng tín dụng.
- Buộc bà Nguyễn Thị Kim Thái T phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S tổng số tiền là 68.345.761 (sáu mươi tám triệu ba trăm bốn mươi lăm nghìn bảy trăm sáu mươi mốt) đồng, trong đó nợ vốn 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng, lãi trong hạn 28.345.761 (hai mươi tám triệu ba trăm bốn mươi lăm nghìn bảy trăm sáu mươi mốt) đồng.
- Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm bà Nguyễn Thị Kim Thái T phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân ngày 13 tháng 10 năm 2023 của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.
2. Về án phí:
Ngân hàng Thương mại Cổ phần S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S 1.350.000 (một triệu ba trăm năm mươi nghìn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003868 ngày 11 tháng 11 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.
Bà Nguyễn Thị Kim Thái T phải chịu 3.417.283 (ba triệu bốn trăm mười bảy nghìn hai trăm tám mươi ba) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND huyện Bàu Bàng; - Chi cục THADS huyện Bàu Bàng; - Đương sự; - Lưu hồ sơ, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mai |