vanban.org

Bản án 46/2024/HSST — Hình sự

TAND Q. Hoàn Kiếm, TP. Hà Nội Tuyên án 15/03/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Xuân N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt: Nguyễn Xuân N 14 (mười bốn) tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 11/12/2023. Miễn phạt tiền đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn X N - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Xuân N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-------------------
Bản án số: 46/2024/HSST
Ngày: 15/3/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Hồng Hạnh

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Kình

Bà Nguyễn Thị Diệp Anh

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Đặng Thị Ngọc Ánh - Thư ký Toà án nhân dân quận Hoàn Kiếm.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm: Bà Nguyễn Thị Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 15/3/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 36/2024/HSST ngày 21/02/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Xuân N

Giới tính: Nam

Tên gọi khác: Không.

Sinh năm: 1981

HKTT: phường NL, quận LB, Hà Nội.

Chỗ ở hiện nay: phường. NL, quận LB, Hà Nội.

Quốc tịch: Việt Nam

Dân tộc: Kinh

Tôn giáo: Không

Nghề nghiệp: Lao động tự do

Trình độ học vấn: 12/12.

Họ và tên cha: Nguyễn Xuân T- Sinh năm 1954

Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị Kim D - Sinh năm 1957

Gia đình có hai anh em: Bị can là thứ nhất.

Họ và tên vợ: Nguyễn Thị Hng – Sinh năm: 1984

Có 01 con sinh năm 2014.

Tiền án, tiền sự: Không.

Tạm giữ: 11/12/2023

Bị can hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an TP. Hà Nội.

(Có mặt tại phiên toà)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22h50’ ngày 10/12/2023, tổ công tác C1D2-PK02E làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát đảm bảo an ninh trật tự trên phố K, đoạn lòng đường trước số nhà K, phường CN, Hoàn Kiếm, Hà Nội, phát hiện Nguyễn Xuân N điều khiển xe máy nhãn hiệu Honđa Wave màu đỏ, BKS 29K1-81115, có biểu hiện nghi vấn nên tổ công tác yêu cầu N dừng xe để kiểm tra. Qua kiểm tra, N tự nguyện mở túi đeo chéo màu đen đang đeo trên người, lấy bên trong chiếc ví da màu đen 01 túi nilong kích thước khoảng 2 x 3cm có chứa 02 cục bột màu trắng. N khai nhận là ma túy hêrôin mua về để sử dụng. Sau đó tổ công tác đã đưa N cùng tang vật về trụ sở để giải quyết.

* Thu giữ của Nguyễn Xuân N :

- 01 túi nilông, kích thước khoảng 2 x 3cm, có chứa 02 cục bột màu trắng.

- 01 chiếc ví màu đen, kích thước khoảng 10 x12cm đã qua sử dụng.

- 01 túi đeo chéo màu đen, kích thước khoảng 10 x 25cm đã qua sử dụng

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, gắn sim 0332308904 đã qua sử dụng.

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honđa Wave màu đỏ, BKS 29K1-81115; SK: RLHJA3916KY161021; SM: JA39E-1017758 đã qua sử dụng.

Xét nghiệm Nguyễn Xuân N dương tính với chất ma túy. Khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Xuân N tại số 25/163 Nguyễn Văn Cừ, phường NL, quận LB, Hà Nội không phát hiện thu giữ đồ vật, tài sản gì liên quan đến ma túy.

Tại Bản kết luận giám định số 8189/KL-KTHS ngày 20 tháng 12 năm 2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội xác định: 02 cục chất bột màu trắng bên trong 01 túi nilông đều là ma túy loại Heroin, tổng khối lượng 0,247 gam.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Xuân N khai nhận: Khoảng 18h30 ngày 10/12/2023, N đang làm việc tại quán Lẩu số quận Đống Đa, Hà Nội, thì có gặp một người bạn học cũ tên là Lợi. N nhờ Lợi mua hộ 500.000đồng ma túy hêrôin. Lợi đồng ý và dẫn N đi bộ vào trong ngõ 115 Nguyễn Khuyến và bảo N đứng đợi. Khoảng 15 phút sau, Lợi đi cùng một người đàn ông không quen biết. Sau đó người này đến bán cho N 01 túi nilong màu trắng, kích thước khoảng 2 x 3cm, có chứa 02 cục bột màu trắng với giá 500.000đồng. Sau khi mua được ma túy N cất giấu ma túy vào 01 chiếc ví da màu đen để bên trong 01 chiếc túi đeo chéo màu đen và quay về quán lẩu. Còn Lợi đi đâu N không rõ.

Cơ quan điều tra- Công an quận Hoàn Kiếm đã dẫn giải Nguyễn Xuân N xác định địa điểm mua ma tuý tại đối diện số nhà, Hà Nội, tuy nhiên N chưa chỉ ra được người có tên là L và người bán ma túy cho Nguyễn Xuân N .

Đối với chiếc xe Honđa Wave màu đỏ, BKS 29K1-81115; SK: RLHJA3916KY161021; SM: JA39E-1017758, thu giữ của Nguyễn Xuân N . N khai: Chiếc xe máy trên là của bố đẻ tên là Nguyễn Xuân T – SN: 1954, HKTT: Số phường, NL, quận LB, HN để làm phương tiện đi lại. Cơ quan điều tra- Công an quận Hoàn Kiếm đã ra quyết định xử lý vật chứng trao trả cho ông Nguyễn Xuân Thái.

Về các đối tượng bán ma túy và người môi giới mua bán ma túy tên “L”. N không biết rõ họ tên, tuổi, địa chỉ, số điện thoại nên không có hình thức để xử lý.

Tại bản cáo trạng số: 35/CT-VKS ngày 16/02/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm truy tố Nguyễn Xuân N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên toà:

-Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như trong quá trình điều tra và nội dung bản cáo trạng đã nêu. Bị cáo thực sự ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

* Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Hoàn Kiếm giữ quan điểm truy tố nêu trên và đề nghị:

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự với Nguyễn Xuân N như tội danh và điều luật đã viện dẫn tại bản cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, đánh giá mức độ phạm tội, xem xét nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ đã đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo N mức án từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo và 01 túi đeo chéo màu đen, 01 ví màu đen thu giữ của bị cáo do có liên quan đến hành vi phạm tội. Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia màu đen và 01 sim điện thoại kèm theo do không liên quan đến hành vi phạm tội. Bị cáo phải chịu án phí và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên ṭòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về định tội và hình phạt: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, được chứng minh bằng biên bản bắt người phạm tội quả tang, bằng vật chứng thu giữ của bị cáo, qua giám định là ma túy loại Heroin cùng các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 22h50’ ngày 10/12/2023, tại trước phường CN, Hoàn Kiếm, Hà Nội, Nguyễn Xuân N đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,247 gam Heroin nhằm mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang cùng tang vật. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm truy tố đối với bị cáo Nguyễn Xuân N là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền kiểm soát và quản lý độc quyền về chất ma túy của Nhà nước. Ma túy là chất gây nghiện làm huỷ hoại sức khoẻ con người, làm xói mòn đạo đức xã hội, ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Hành vi của bị cáo đã tiếp tay cho những kẻ mua bán ma tuý và ma tuý cũng là nguyên nhân gây ra các tội phạm hình sự khác. Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân bị cáo cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới đảm bảo tác dụng cải tạo giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Đối với loại tội này, ngoài hình phạt chính, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tuy nhiên, xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Khi lượng hình, Hội đồng xét xử có xem xét, tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo phạm tội lần đầu, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, trên các mép niêm phong có chữ ký của đương sự Nguyễn Xuân N , người chứng kiến Nguyễn Xuân H, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn, cán bộ Nguyễn Trung Th, giám định viên Trần Ngọc Hinh hình dấu của Cơ quan Công an. Bên trong có: 01 (một) túi nilong chứa 02 (hai) cục bột màu trắng là ma túy loại heroin, khối lượng: 0,247 gam; 0l ví màu đen kích thước 10x12cm; 01 túi đeo chéo màu đen kích thước khoảng 10x25cm do có liên quan đến hành vi phạm tội. Trả lại cho bị cáo N 01 điện thoại di động, kiểu dáng nhãn hiệu Nokia, màu đen đã qua sử dụng và 01 sim điện thoại đã cũ đã qua sử dụng do không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với đối tượng bán ma túy và người môi giới mua bán ma túy tên “Lợi”. N không biết rõ họ tên, tuổi, địa chỉ, số điện thoại nên không có hình thức để xử lý.

Từ những nhận định trên,

QUYẾT ĐỊNH

1.Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Xuân N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

2. Áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Nguyễn Xuân N 14 (mười bốn) tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 11/12/2023.

Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo việc thi hành án.

Miễn phạt tiền đối với bị cáo.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

+) Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, trên các mép niêm phong có chữ ký của đương sự Nguyễn Xuân N , người chứng kiến Nguyễn Xuân H, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn H, cán bộ Nguyễn Trungnh, giám định viên Trần Ngọc Cà hình dấu của Cơ quan Công an. Bên trong có: 01 (một) túi nilong chứa 02 (hai) cục bột màu trắng là ma túy loại heroin, khối lượng: 0,247 gam; 0l ví màu đen kích thước 10x12cm; 01 túi đeo chéo màu đen kích thước khoảng 10x25cm đều đã cũ, đã qua sử dụng.

+) Trả lại cho bị cáo N 01 điện thoại di động kiểu dáng nhãn hiệu Nokia, màu đen và 01 sim điện thoại đều đã cũ, đã qua sử dụng không rõ nguồn gốc chất lượng.

Tang vật hiện đang giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm theo biên bản giao nhận tang vật, vật chứng ngày 11/03/2024 giữa Công an quận Hoàn Kiếm và Chi cục thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm.

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ