- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Phạm Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 46/2024/HS-ST Ngày 22/3/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Kim Oanh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đinh Thị Kim Đăng
Bà Phạm Thị Bích Hợp
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thuỷ- Thư ký Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng tham gia phiên tòa: Ông Trần Hoàng Đức- Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 22 tháng 3 năm 2024 tại điểm cầu trung tâm Phòng xét xử trực tuyến tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội và điểm cầu thành phần Phòng xét xử trực tuyến tại Trại tạm giam số 1- Công an thành phố H, Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 14/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25A/2024/QĐXXST- HS ngày 29 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo: Phạm Văn D, sinh năm 1986; HKTT: Số A hẻm B ngõ Q, T, phường Q, quận H, Hà Nội; Chỗ ở: 6 Đ, phường C, quận H, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hoá: 09/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Phạm Văn K và con bà Trịnh Thị T; Tiền án: Có 01 tiền án. (Năm 2021 Toà án nhân dân quận Thanh Xuân, Hà Nội xử phạt 02 năm tù về tội Trộm cắp tài sản, chưa xoá án tích.); Tiền sự: Không; Nhân thân: Tháng 08/2000, Công an phường B, quận H, thành phố Hà Nội xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản (đã xóa). Tháng 11/2001, Công an phường B, quận H, thành phố Hà Nội xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản (đã xóa). Ngày 29/11/2002, Công an phường Q, quận H, thành phố Hà Nội xử phạt hành chính về hành vi lừa đảo xe máy (đã xóa). Ngày 07/6/2003, Công an phường Q, quận H, thành phố Hà Nội xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản (đã xóa). Ngày 03/7/2003, Công an phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản (đã xóa). Ngày 28/8/2003, Công an phường N, quận Đ, thành phố Hà Nội xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp xe đạp (đã xóa). Ngày 12/11/2007, đi cai nghiện bắt buộc 24 tháng. Ngày 17/11/2003, Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xử 10 tháng tù bị tội Trộm cắp tài sản (đã xóa án tích). Ngày 26/11/2003, Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội xử 08 tháng tù bị tội Trộm cắp tài sản (đã xóa án tích). Ngày 06/05/2005, Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xử 30 tháng tù bị tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (đã xóa án tích). Ngày 25/10/2016, Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xử 34 tháng tù bị tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (đã xóa án tích). Theo D1 chỉ bản số 406 lập ngày 01/8/2023 tại Công an quận H. Bị cáo bị bắt quả tang ngày 16/11/2023. Hiện đang bị áp dụng biện pháp tạm giam tại Trại tạm giam số 1- Công an thành phố H. Có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ 10 phút ngày 16/11/2023, Tổ công tác Đại đội 1- Tiểu đoàn CSCĐ số 2- Trung đoàn CSCĐ- Công an thành phố H phối hợp Công an phường Q, H, Hà Nội đang làm nhiệm vụ tại khu vực đầu ngõ T, phố C, phường Q, quận H, thành phố Hà Nội đã tiến hành kiểm tra hành chính và thu giữ của Phạm Văn D 01 túi nilon bên trong có chứa ma túy “đá” để trong túi quần bên trái của D. D khai: Khoảng 22 giờ 00 ngày 16/11/2023, D đi bộ lang thang đến khu vực cầu L- T, phường Q, quận H, Hà Nội mua của một nam thanh niên không quen biết tên là Q 01 gói nilon bên trong có chứa ma tuý “đá” với giá 300.000 đồng. Đến khoảng 23h10’ cùng ngày D đi tìm nơi sử dụng, khi đi đến khu vực đầu ngõ T, phố C, phường Q, quận H, thành phố Hà Nội thì bị cơ quan công an kiểm tra bắt giữ như đã nêu trên.
Tại Bản kết luận giám định số 7709A KL-KTHS ngày 25/11/2023 của Phòng K1 - C kết luận: “Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon màu trắng là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,335 gam”.
Tại bản cáo trạng số 10/CT-VKS- HBT ngày 30/01/2024 Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng đã truy tố Phạm Văn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Phạm Văn D giữ nguyên lời khai như đã khai tại cơ quan điều tra, thừa nhận nội dung, tội danh mà Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng. Bị cáo thành khẩn khai báo và đề nghị Hội đồng xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng sau khi xem xét đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo đã giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Phạm Văn D từ
24-30 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,335 gam ma túy loại Methamphetamine. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Tại lời nói sau cùng, Phạm Văn D đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết đinh tố tụng của cơ quan điều tra, Công an quận H, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Khoảng 23 giờ 10 phút ngày 16/11/2023, tại khu vực đầu ngõ T, phố C, phường Q, quận H, thành phố Hà Nội, Phạm Văn D có hành vi tàng trữ trái phép 0,335 gam ma túy loại Methamphetamine mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội bởi ma túy đang là mối hiểm họa cho mỗi gia đình và toàn xã hội. Ma túy không những là nguyên nhân hủy hoại sức khỏe, gây suy giảm giống nòi, gây suy thoái đạo đức lối sống, làm thiệt hại nền kinh tế mà còn là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tội phạm nguy hiểm khác. Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng vì đã trực tiếp xâm phạm độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an xã hội, gây bất bình lo lắng cho nhân dân. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng truy tố bị cáo ra xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ. [3] Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu, bị cáo có 07 tiền sự về tội trộm cắp tài sản và cai nghiện bắt buộc, 04 tiền án đã được xoá về cùng tội ma túy và Trộm cắp tài sản, trong đó có 01 tiền án năm 2021 về tội Trộm cắp tài sản chưa được xoá án tích. Bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Do vậy cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và làm bài học, răn đe người khác. Tuy nhiên khi lượng hình có xem xét tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm một phần hình phạt cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Đối với loại tội này ngoài hình phạt tù bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét bị cáo hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho D vào ngày 24/7/2023, quá trình điều tra dẫn giải bị cáo đi xác định nhưng không xác định được người đàn ông trên. D khai không rõ nhân thân lai lịch của người đàn ông này nên cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ là có căn cứ.
Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ 0,335 gam ma túy Methamphetamine, đây là chất độc hại, Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Phạm Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt: Phạm Văn D 26 (hai sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/11/2023.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo D.
3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì niêm phong còn nguyên vẹn bên trong có 0,335 gam ma túy Methamphetamine, bên ngoài có chữ ký của giám định viên, chữ ký của Phạm Văn D. (Vật chứng đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hai Bà Trưng theo Biên bản giao nhận tang vật, vật chứng số TV 89/24).
4. Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 136, Điều 331, 333, 337 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:
Bị cáo Phạm Văn D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND thành phố Hà Nội;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND quận Hai Bà Trưng;
- Chi cục THA dân sự quận Hai Bà Trưng;
- Công an quận Hai Bà Trưng;
- Trại tạm giam số 1 - Công an TP Hà Nội;
- Bị cáo;
- Lưu HS-VP.
Đỗ Thị Kim Oanh
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND quận Hai Bà Trưng; - VKSND TP Hà Nội; - TAND thành phố Hà Nội; - Công an quận Hai Bà Trưng; - Trại tạm giam số 1 - Công an TP Hà Nội; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Kim Oanh |