vanban.org

Bản án 46/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau Tuyên án 28/05/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Căn cứ: Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Phan Lâm Quy phạm t "Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Bị cáo Phan Lâm Q 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/ Căn cứ: Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẦN VĂN THỜI
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2024/HS-ST
Ngày 28 tháng 5 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Thành Quang

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Đỗ Mỹ Lil

2/ Ông Duyên Văn Hiền

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Mỹ Tiên - Là Thư ký viên, Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Trương Chí Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 52/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:

- Phan Lâm Q, sinh ngày 22/12/2004, tại tỉnh Cà Mau.

Nơi cư trú: Khóm A, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phan Văn P; mẹ: Nguyễn Thị H; vợ con: Chưa có; tiền sự: Không; tiền án: Không, bị cáo bị bắt quả tang và tạm giữ từ ngày 24/01/2024 cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 24/01/2024 Q nảy sinh ý định mua ma tuý để sử dụng, nên thuê xe ôm đi từ bến phà N thuộc Khóm A, thị trấn S đến chòi lá của một người đàn ông tên Khi thuộc ấp R, xã L, huyện T để mua ma tuý; Q đưa cho người đàn ông số tiền 2.000.000 đồng, người đàn ông đưa tiền thừa lại cho Q 100.000 đồng và 01 bọc nilon hàn kín bên trong có chứa tinh thể rắn là ma tuý đá, bên ngoài quấn băng keo màu đen. Sau đó, Q cầm bọc ma tuý vừa mua trên tay phải và ra lộ đón xe ôm về nhà tại Khóm A, thị trấn S, huyện T. Khi về đến nhà, Q để bọc ma tuý đá vừa mua vào vỏ bao thuốc lá hiệu “SCOTT” và cất giấu vào túi quần jean màu đen phía trước bên phải Q đang mặc. Sau đó, Q đi bộ đến bến phà N thuộc Khóm A, thị trấn S định đi phà qua sông để uống cà phê thì bị Tổ Công tác Đoàn Đặc nhiệm phòng chống tội phạm ma túy số 4/Bộ tư lệnh Cảnh sát biển phối hợp với Công an thị trấn S, huyện T và Phòng phòng chống ma tuý và tội phạm/Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh C kiểm tra bắt quả tang thu giữ toàn bộ khối lượng ma túy nêu trên. Tại Kết luận giám định số 20/KLMT-KTHS ngày 28/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh S kết luận: Mẫu các hạt tinh thể rắn màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 1,2265 gam, loại Methamphetamine (là chất ma tuý nằm trong danh mục IIC, STT 247, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/08/2022 của Chính phủ). Tang vật chưa được xử lý: 01 vỏ bao thuốc lá hiệu SCOTT; 01 đoạn băng keo màu đen; 01 phong bì thư hoàn mẫu số 20/KLMT-KTHS ngày 28/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh S.

Tại Cáo trạng số: 52/CT-VKS ngày 09/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau truy tố bị cáo về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên Cáo trạng số: 52/CT-VKS ngày 09/5/2024 và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Về hình phạt: Căn cứ Điều 38; Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo từ 1 đến 2 năm tù.

Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thư hoàn mẫu số 20/KLMT-KTHS ngày 28/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh S (là 1,2043 gam là ma tuý loại Methamphetamine, sau khi trích giám định hoàn lại); 01 vỏ bao thuốc lá hiệu SCOTT; 01 đoạn băng keo màu đen.

Bị cáo không tham gia tranh luận bày luận tội của Viện kiểm sát, chỉ yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không ai có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi:

Về tội danh:

Tại phiên toà, bị cáo Q thừa nhận diễn biến vụ việc đã nêu tại Cáo trạng số: 52/CT-VKS ngày 09/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau, là đúng. Lời thừa nhận này của bị cáo là phù hợp với lời khai của bị cáo ở giai đoạn điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, nên có đủ căn cứ để xác định: Ngày 24/01/2024, Q đi từ Thị trấn S, đến chòi lá của người tên Khi thuộc ấp R, xã L, mua ma tuý đá dạng viên nén và cất giấu trong người mục đích để sử dụng; khi mua ma tuý về, Q đi bộ đến bến phà N thuộc Khóm A, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau, thì bị Đoàn Đặc nhiệm phòng chống tội phạm ma túy số 4/BTL Cảnh sát biển phối hợp với Công an thị trấn S và Phòng phòng, chống ma tuý và tội phạm/BCH Bộ đội Biên phòng tỉnh C kiểm tra bắt quả tang và thu giữ toàn bộ khối lượng ma túy trong người của Q. Tại Kết luận giám định số 20/KLMT-KTHS ngày 28/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh S, ma tuý mà Q tàng trữ được giám định có khối lượng 1,2265 gam, loại Methamphetamine - là chất ma tuý nằm trong danh mục IIC, STT 247, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/08/2022 của Chính phủ. Hành vi tàng trữ ma tuý có khối lượng nêu trên của bị cáo Q mục đích để sử dụng đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự

Như vậy, Cáo trạng số: 52/CT-VKS ngày 09/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời đã truy tố và lời buộc tội của Viện kiểm sát đối với bị cáo là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Về áp dụng hình phạt:

Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, có tính chất nghiêm trọng, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất an ninh trật tự trị an trên địa bàn Thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau. Ý thức được điều đó, nhưng để thỏa mãn nhu cầu của cá thân, bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội, với lỗi cố ý trực tiếp. Nên, Viện kiểm sát đề nghị áp dụng hình phạt tù cho bị cáo từ 01 đến 02 năm, để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, nhằm cải tạo giáo dục bị cáo là có căn cứ, mục đích để răn đe cho những ai xem thường pháp luật, cũng như nhằm để phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Vì vậy, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

Về vật chứng:

Số ma tuý là Methamphetamine, sau khi trích giám định hoàn lại trọng lượng 1,2043 gam (được niêm phong trong phong bì thư hoàn mẫu số 20/KLMT-KTHS ngày 28/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh S), là vật phạm pháp, cấm lưu hành, nên cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với: 01 vỏ bao thuốc lá hiệu SCOTT và 01 đoạn băng keo màu đen.

Xét thấy, không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu huỷ.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại Khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu chứng cứ và lời khai của bị cáo, cho thấy bị cáo không có công việc ổn định, nếu áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền thì gây khó khăn để thi hành án. Vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Các vấn đề khác có liên quan:

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Q: Công an huyện T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.

Đối với người tên Khi, đối tượng bán ma túy cho Q: Cơ quan Cảnh sát điều tra có kết hợp với Công an xã P, Công an xã L xác minh, nhưng Khi không có mặt tại địa phương, đến nay chưa làm việc được với Khi.

Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra tách ra để tiếp tục xác minh, khi có đủ căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật là có căn cứ.

Về án phí: Bị cáo đã bị kết án nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm số tiền 200.000 đồng. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Căn cứ: Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố:

- Bị cáo Phan Lâm Quy phạm t "Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt:

- Bị cáo Phan Lâm Q 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn tù của bị cáo được tính kể từ ngày 24/01/2024.

2/ Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 1,2043 gamlà ma tuý loại Methamphetamine (sau khi trích giám định hoàn lại) được niêm phong trong phong bì thư hoàn mẫu số 20/KLMT-KTHS ngày 28/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh S; 01 vỏ bao thuốc lá hiệu SCOTT; 01 đoạn băng keo màu đen. (Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Cà Mau và Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau ngày 10/5/2024).

3/ Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Phan Lâm Q phải nộp án phí hình sự sơ thẩm số tiền 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng).

4/ Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo Phan Lâm Q được quyền kháng cáo bản án này trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ