- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự sơ thẩm - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 46/2024/HS-ST Ngày: 09-4-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ - TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Đức.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Công Gia.
2. Bà Trần Thị Yến Nhi.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Xuân Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Thái - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 33/2024/HSST ngày 21/3/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2024/QĐXXST-HS ngày 26/3/2024, đối với bị cáo:
PHẠM VĂN TR - sinh năm: 1988; nơi sinh: tại tỉnh Tuyên Quang.
Nơi cư trú: Khu B, thị trấn T Ph, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn C – sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị V - sinh năm 1968; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 06/11/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 01 năm 08 tháng tại Quyết định số 03/QĐ-TA.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 20/12/2023 đến ngày 29/12/2023 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai. (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào sáng ngày 18/12/2023, Phạm Văn Tr đi bộ đến khu vực chợ 125 thuộc thị trấn T Ph, huyện Tân Phú gặp một người đàn ông (không biết rõ họ, tên, địa chỉ) mua 01 gói ma túy với số tiền 300.000 đồng rồi đưa về nhà của mình ở ấp C, xã Tr C, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai với mục đích để sử dụng. Khi về đến nhà, Trường lấy 01 phần ma túy để sử dụng, phần ma túy còn lại, Tr bỏ vào túi ni long và cất giấu trong phòng ngủ. Đến khoảng 16 giờ 30 phút ngày 20/12/2023, nhận được tin báo, Công an xã Tr C tiến hành kiểm tra, phát hiện Phạm Văn Tr có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nên đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Phạm Văn Tr và thu giữ 01 gói ni long hàn kín, có kích thước 02x02cm, bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 màu xám đen. Sau đó, Công an xã Tr C bàn giao Phạm Văn Tr cùng với vật chứng vụ án cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Phú giải quyết theo thẩm quyền.
Căn cứ Kết luận giám định số 2849/KL-KTHS ngày 28/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận:
Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,5996 gam, loại Methamphetamine.
Hoàn lại đối tượng giám định: Toàn bộ đối tượng còn lại sau giám định. Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,5195gam.
Tại Cáo trạng số 38/CT-VKSTP-ĐN ngày 19/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Phạm Văn Tr về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình giống với lời khai trong quá trình điều tra, truy tố và không bổ sung gì thêm.
Tại phiên tòa, sau khi phân tích các dấu hiệu phạm tội, đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ; đặc điểm nhân thân của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Phạm Văn Tr về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Văn Tr từ 01 năm tù đến 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/12/2023.
Về biện pháp tư pháp: Đề nghị, Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì giấy niêm phong số 2849/KL-KTHS, ngày 28/12/2023 có dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai bên trong có chứa chất ma túy loại Methaphetamine còn lại sau giám định.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 màu xám của bị cáo Phạm Văn Tr không liên quan đến hành vi phạm tội nên đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo Tr.
Về vấn đề khác: Quá trình điều tra, bị cáo khai nhận mua ma túy của người đàn ông (không rõ họ tên) tại chợ 125 thị trấn T Ph, huyện Tân Phú. Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Phú tiến hành xác minh nhưng chưa xác định được nhân thân, lai lịch, sẽ tiếp tục điều tra khi làm rõ được xử lý sau.
Về án phí đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không tranh luận với Kiểm sát viên.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: “Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là trái pháp luật và nguy hiểm cho xã hội và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo”.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trả hồ sơ điều tra bổ sung. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Phú, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo Phạm Văn Tr không cung cấp được tài liệu chứng cứ mới và khai nhận ngày 18/12/2023, bị cáo đã có hành vi tàng trữ 01 gói nylong chứa ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 0,5996 gam cắt giấu tại nhà nhằm mục đích sử dụng. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa.
Hội đồng xét xử, nhận thấy hành vi của bị cáo Phạm Văn Tr đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Phạm Văn Tr về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo Phạm Văn Tr là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, gây mất trật tự tại địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tàng trữ, cất giấu trái phép chất ma túy có thành phần là Methamphetamine là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Để có mức hình phạt phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, Hội đồng xét xử sẽ xem xét, đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.
Về tiền sự, tiền án: Không có.
Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo; trên cơ sở xem xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử, xét thấy cần phải tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy chất ma túy còn lại sau giám định bao gồm: 01 (một) phong bì ký hiệu số 2849/KL-KTHS, ngày 28 tháng 12 năm 2023 có dấu hình tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai bên trong có chứa chất ma túy loại Methaphetamine còn lại 0,5195 gam.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 màu xám đen của bị cáo Phạm Văn Trường không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo Trường 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 màu xám đen.
Về nguồn gốc ma túy: Qúa trình điều tra, bị cáo Phạm Văn Tr khai nguồn gốc số ma túy là mua lại của người đàn ông ở 125 thị trấn Tân Phú, huyện Tân Phú nhưng hiện nay Cơ quan điều tra chưa xác định được nhân thân lai lịch. Vì vậy, Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Phú tiếp tục điều tra làm rõ và xử lý sau là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo phải chịu số tiền 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Quan điểm về việc giải quyết toàn bộ vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự.
- Căn cứ vào Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự.
- Điều 106 và khoản 2 Điều 136, Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn Tr phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn Tr 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ (ngày 20/12/2023).
3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy chất ma túy còn lại sau giám định bao gồm: 01 (một) phong bì ký hiệu số 2849/KL-KTHS, ngày 28 tháng 12 năm 2023 có dấu hình tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai bên trong có chứa chất ma túy loại Methaphetamine còn lại 0,5195 gam.
Trả lại cho bị cáo Phạm Văn Tr 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 màu xám đen.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 21/3/2024 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Phú và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Phú).
4. Về án phí: Bị cáo Phạm Văn Tr phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 09/4/2024).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai; - VKSND huyện Tân Phú; - Công an huyện Tân Phú; - Chi cục THADS huyện Tân Phú; - Bị cáo; - Lưu (hồ sơ, án văn)./. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Bá Đức |