- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lừu Văn Dương - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Bị cáo Lừu Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 46/ 2024/HS-ST Ngày 19-01-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hạnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Tống Văn Chiên;
2. Ông Lò Văn Chiên.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Tiến Tùng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.
- Đại D1 Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 46/2023/TLST-HS, ngày 29 tháng 12 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2024/QĐXXST-HS, ngày 08 tháng 01 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Lừu Văn D, tên gọi khác: Không có, sinh năm 2003, tại huyện P, tỉnh Lai Châu. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: Bản M, xã N, huyện P, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Bố đẻ: Lừu Văn D1, sinh năm 1979; mẹ đẻ: Thùng Thị N, sinh năm 1976; bị cáo chưa có vợ, con tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ tại Nhà tạm giữ Công an huyện Phong Thổ từ ngày 22/6/2023 đến ngày 01/7/2023, sau đó bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo vi phạm nghĩa vụ cam đoan nên bị bắt tạm giam từ ngày 09/10/2023 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lừu Văn D1, sinh năm 1979, địa chỉ: Bản M, xã N, huyện P, tỉnh Lai Châu, có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 19 giờ 00 phút, ngày 22/6/2023, tại khu vực bản Dền Thàng, xã Nậm Xe, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, tổ công tác Công an xã Nậm Xe bắt quả tang Lừu Văn D tàng trữ trái phép 02 gói chất ma túy, loại chất bột màu trắng dạng cục, được gói ngoài bằng mảnh nilon màu xanh, để trong cốp chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, Wave α, biển kiểm soát: 25B1-680.16. Lừu Văn D khai nhận chất bột màu trắng dạng cục là Heroine của D mua về để sử dụng cho bản thân. Quá trình điều tra, D khai số ma túy bị thu giữ do D mua của Vàng Văn Dìn, sinh năm 1972, địa chỉ: Bản Thèn Sin 2, xã Thèn Sin, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu, hết 200.000 đồng. Số tiền 200.000 đồng mua Heroine là do Lò Văn D2, sinh năm 2003, trú tại: Bản Mấn 2, xã Nậm Xe, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, đưa cho Lý Hoàn H, sinh năm 2004, trú tại: Bản Mấn 2, xã Nậm Xe, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, để H đưa cho Lừu Văn D đi mua Heroine cho cả ba người cùng sử dụng.
Tại Kết luận số: 81/LK-GĐVV, ngày 22/6/2023, của Giám định viên tư pháp theo vụ việc, kết luận: Tổng khối lượng chất bột màu trắng dạng cục trong 02 gói nilon màu xanh là 0,12 gam.
Kết luận giám định số: 827/KL-KTHS, ngày 27/6/2023, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Tỉnh Lai Châu, kết luận: 02 mẫu chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Heroine (Heroin).
Tại bản Cáo trạng số: 02/CT-VKS, ngày 28 tháng 12 năm 2023, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu đã truy tố bị cáo Lừu Văn D về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, đại D1 Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên nội dung Cáo trạng. Phần luận tội, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Lừu Văn D phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Về hình phạt, áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lừu Văn D từ 01 (Một) năm, 03 (Ba) tháng đến 01 (Một) năm, 06 (Sáu) tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 03 mảnh nilon màu xanh và vỏ niêm phong cũ. Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lừ Văn D1 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, Wave α, biển kiểm soát: 25B1-680.16. Đối với 0,12 gam Heroine thu giữ của bị cáo đã được gửi đi giám định không hoàn lại nên không đề cập xử lý. Về án phí, áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí cho bị cáo.
Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng và không có tranh luận gì với luận tội của Kiểm sát viên. Tại lời nói sau cùng, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Phong Thổ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về sự vắng mặt của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tại phiên tòa: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, tại hồ sơ đã có đầy đủ lời khai trong quá trình điều tra, được thu thập theo đúng quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về hành vi phạm tội mà bị cáo Lừu Văn D đã thực hiện:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa ngày hôm nay phù hợp với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong vật chứng, các kết luận giám định, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để khẳng định: Hồi 19 giờ 00 phút, ngày 22/6/2023, tại khu vực bản Dền Thàng, xã Nậm Xe, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, tổ công tác Công an xã Nậm Xe bắt quả tang Lừu Văn D tàng trữ trái phép 02 gói chất ma túy, loại chất bột màu trắng dạng cục. Lừu Văn D khai nhận, số chất bột màu trắng dạng cục đó là Heroine do D mua để sử dụng cho bản thân. Qua kết quả trưng cầu giám định, xác định được: Số chất bột khô màu trắng thu giữ của Lừu Văn D là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,12 gam.
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, tính chất tội phạm nghiêm trọng, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo nhận thức được rõ Heroine là một loại ma túy, chất gây nghiện có tác hại rất lớn và ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, là một trong những nguyên nhân gây mất trật tự xã hội và làm phát sinh tội phạm khác. Bị cáo biết rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Tình tiết liên quan đến vụ án:
Bị cáo khai số Heroine bị thu giữ là bị cáo mua của Vàng Văn Dìn, sinh năm 1972, địa chỉ: Bản Thèn Sin 2, xã Thèn Sin, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu. Quá trình điều tra, Dìn không thừa nhận việc bán Heroine cho bị cáo. Ngoài lời khai của bị cáo không còn tài liệu, chứng cứ nào khác nên không đủ căn cứ để xử lý đối với Dìn trong vụ án này.
Về nguồn gốc số tiền mua Heroine, bị cáo khai do Lò Văn D đưa cho Lý Hoàn H để H đưa cho bị cáo đi mua Heroine về cùng sử dụng. Quá trình điều tra, Lò Văn D và Lý Hoàn H không thừa nhận việc đưa tiền cho bị cáo. Ngoài lời khai của bị cáo không còn tài liệu, chứng cứ nào khác nên không đủ căn cứ để xử lý đối với Lò Văn D và Lý Hoàn H trong vụ án này.
Việc bị cáo sử dụng chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, Wave α, biển kiểm soát: 25B1-680.16, xe của ông ông Lừu Văn D1, là bố đẻ của bị cáo. Ông D1 không biết bị cáo mang xe đi để mua Heroine nên ông D1 không phải chịu trách nhiệm với vai trò đồng phạm trong vụ án này.
Trong thời gian bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo và Lò Văn Toàn, sinh năm 1975, địa chỉ: Bản Mấn 2, xã Nậm Xe, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, cùng nhau thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là 01 chiếc máy bơm có giá trị 696.000 đồng. Do hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo và Lò Văn Toàn chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên cơ quan Công an huyện Phong Thổ đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này đối với bị cáo và Lò Văn Toàn.
Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, hiểu biết xã hội và kiến thức pháp luật có phần còn hạn chế. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời để góp phần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật trong nhân dân và đảm bảo công tác phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Xét hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Về xử lý vật chứng: Toàn bộ số Heroine thu giữ của bị cáo đã gửi đi giám định không hoàn lại, Hội đồng xét xử không xem xét. Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xử lý vật chứng, gồm: 03 mảnh nilon màu xanh và các vỏ niêm phong cũ, là những vật do không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, Wave α, biển kiểm soát: 25B1-680.16, là xe thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông Lừu Văn D1. Quá trình điều tra xác định ông D1 không biết bị cáo mang xe đi để mua Heroine. Ông D1 có nguyện vọng được xin lại chiếc xe để làm phương tiện đi lại cho gia đình do nên cần trả lại xe cho ông D1.
Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, bị cáo xin được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm nên cần miễn án phí cho bị cáo theo điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Quan điểm của đại D1 Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ tại phiên tòa về tội danh, mức hình phạt đối với các bị cáo, về phần xử lý vật chứng và án phí là có căn cứ nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106, các Điều: 135, 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên bố:
1. Bị cáo Lừu Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lừu Văn D: 01 (Một) năm, 05 (Năm) tháng tù.
Bị cáo được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 22/6/2023 đến ngày 01/7/2023 (09 ngày), còn phải chấp hành: 01 (Một) năm, 04 (Bốn) tháng, 21 (Hai mươi mốt) ngày tù. Thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 09/10/2023.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
2. Xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy các vật chứng, gồm: 03 mảnh nilon màu xanh; các vỏ niêm phong cũ.
Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lừu Văn D1: 01 chiếc chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, Wave α, biển kiểm soát: 25B1-680.16, số khung: RLHJA3915KY416953, số máy: JA39E1286659, xe đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong, kèm theo 01 chìa khóa xe, 01 giấy đăng ký xe mang tên Lò Văn Đạt, do phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Lai Châu cấp ngày 16/6/2022.
(01 giấy đăng ký xe mang tên Lò Văn Đạt, do phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Lai Châu cấp ngày 16/6/2022, đang được lưu trong hồ sơ vụ án tại Tòa án. Các vật chứng khác hiện đang được lưu tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu).
3. Về án phí: Bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh; - Sở Tư pháp; - VKSND huyện Phong Thổ; - CA huyện Phong Thổ (CQĐT, THAHS); - CC THADS huyện Phong Thổ; - Bị cáo; - Người có QLNVLQ; - Lưu: HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Hạnh |