- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KINH MÔN TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 46/2024/HS-ST Ngày: 28/5/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KINH MÔN, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quyết.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Chí Dựng và bà Đinh Thị Tin.
- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Tiến Đạt - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Ông Vũ Đình Thưởng - Kiểm sát viên.
Ngày 28/5/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 31/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn B, sinh năm 1971 tại: Thị xã K, tỉnh Hải Dương; nơi ĐKHKTT: Thôn H, xã T, thị xã K, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn V và bà Nguyễn Thị C (đều đã chết); có vợ là Nguyễn Thị X, có 02 con: con lớn sinh năm 1995, con nhỏ sinh năm 1996; tiền sự: Không; tiền án: Tại bản án số 116/2021/HS-ST ngày 24/12/2021, Tòa án nhân dân thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương xử phạt B 33 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; ngày 15/12/2023, B chấp hành xong hình phạt tù; ngày 29/4/2022 chấp hành xong phần án phí của bản án; nhân thân: Tại bản án số 37/2013/HSST ngày 31/5/2013, Tòa án nhân dân huyện Kinh Môn (nay là thị xã Kinh Môn), tỉnh Hải Dương xử phạt B 36 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; ngày 10/7/2015, B chấp hành xong hình phạt tù; ngày 27/3/2013 chấp hành xong phần án phí của bản án; ngày 05/01/2016, B bị Công an huyện K xử phat hành chính (phạt tiền 200.000 đồng) về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy; tại bản án số 60/2016/HSST ngày 13/12/2016, Tòa án nhân dân huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương xử phạt B 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; ngày 25/01/2019, B chấp hành xong hình phạt tù; ngày 24/3/2017 chấp hành xong phần án phí của bản án; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/02/2024 đến ngày 23/02/2024 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương đến nay - Có mặt tại phiên tòa.
* Người chứng kiến: Anh Lương Văn K - Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 17/02/2024, Nguyễn Văn B đi xe ôm của một người đàn ông không quen biết đến khu vực Dốc Mông thuộc xã Q, thị xã K, tỉnh Hải Dương để tìm mua ma túy loại Heroine về sử dụng. Tại đây, B gặp một người đàn ông không quen biết, đeo khẩu trang, tự giới thiệu tên là N. Người đàn ông trên đã bán cho B 01 gói ma túy có đặc điểm là: 01 gói giấy bạc, bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng, với giá là 200.000 đồng. Sau khi giao dịch xong, B cầm gói ma túy vừa mua được tại lòng bàn tay trái và đi bộ về nhà. Vào khoảng 14 giờ 20 phút cùng ngày, khi B đang đi bộ đến khu vực ngã tư Q thuộc thôn X, xã Q, thị xã K, tỉnh Hải Dương thì bị Tổ công tác thuộc Công an xã Q kiểm tra, bắt quả tang. Tại thời điểm kiểm tra, Tổ công tác đã thu giữ tại vị trí lòng bàn tay trái của B 01 gói giấy bạc bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng. Vụ việc đã được Công an xã Q chuyển giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã Kinh Môn giải quyết theo thẩm quyền.
Ngày 18/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã Kinh Môn tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn B, kết quả: Không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan.
Tại Kết luận giám định số 161/KL-KTHS ngày 19/02/2024, Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Chất bột (dạng cục) màu trắng trong gói giấy bạc nhỏ, được niêm phong trong phong bì ghi thu của Nguyễn Văn B gửi đến giám định có khối lượng 0,163g là ma túy, loại Heroine, có tên khoa học là Diacetymorphine.
Tại Cáo trạng số 31/CT-VKS ngày 24 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương đã truy tố Nguyễn Văn B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Nguyễn Văn B thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kinh Môn đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kinh Môn thực hành quyền công tố, trình bày luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B từ 18 đến 21 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 17/02/2024. Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề xuất về việc xử lý vật chứng và án phí của vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra Công an thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương, Kiểm sát viên thu thập, những người tham gia tố tụng cung cấp; hành vi, quyết định tố tụng do Điều tra viên, Kiểm sát viên thực hiện trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa không có khiếu nại hoặc tố cáo. Do đó xác định những chứng cứ, tài liệu đã thu thập; các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của Nguyễn Văn B tại phiên toà phù hợp với lời khai, bản cung của bị cáo trong quá trình điều tra vụ án, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng của vụ án đã thu giữ được, lời khai của người chứng kiến, bản kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 14 giờ 20 phút ngày 17/02/2024, tại ngã tư Q thuộc thôn X, xã Q, thị xã K, tỉnh Hải Dương. Nguyễn Văn B có hành vi tàng trữ trái phép 0,163g là ma túy, loại Heroine với mục đích để sử dụng thì bị Tổ công tác Công an xã Q phát hiện bắt quả tang. Hành vi nêu trên của Nguyễn Văn B đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, bởi lẽ:
Hành vi của Nguyễn Văn B là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về việc cất giữ chất ma tuý - Một khách thể mà Bộ luật Hình sự đã quy định và bảo vệ. Với mục đích nhằm thoả mãn nhu cầu sử dụng trái phép chất ma tuý của bản thân, bị cáo đã bất chấp pháp luật của Nhà nước, lén lút cất giữ trái phép chất ma túy với số lượng là 0,163g là ma túy, loại Heroine để sử dụng làm mất trật tự trị an trên địa bàn, gây dư luận xấu trong nhân dân. Nhà nước ta đã có chế độ quản lý ngặt nghèo đối với ma tuý, nghiêm cấm mọi hành vi sản xuất, mua bán, vận chuyển, tàng trữ, sử dụng… trái phép chất ma túy. Nhà nước đã tuyên truyền rộng rãi dưới nhiều hình thức về hiểm hoạ của ma tuý và pháp luật của Nhà nước đối với ma tuý. Bản thân bị cáo đã hiểu rõ tác hại của ma tuý đối với sức khoẻ, tính mạng của con người. Nhưng do ham chơi, không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân, bị cáo đã sa vào tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật của Nhà nước. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn thực hiện. Do vậy Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kinh Môn đã truy tố Nguyễn Văn B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Với hành vi của mình, bị cáo phải chịu một hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi mà bị cáo đã gây ra, để hình phạt đó không chỉ là sự trừng trị của pháp luật đối với người phạm tội mà còn là bài học để răn đe, giáo dục chung trong cộng đồng.
Xem xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, thấy rằng:
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tại bản án số 116/2021/HS-ST ngày 24/12/2021, Tòa án nhân dân thị xã Kinh Môn đã xử phạt bị cáo B 33 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 15/6/2021. Ngày 15/12/2023, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù, tính đến ngày phạm tội lần này bị cáo chưa được đương nhiên xóa án tích theo quy định tại Điều 70 Bộ luật Hình sự. Hành vi phạm tội của B lần này thuộc trường hợp tái phạm do vậy bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo là người có nhân thân xấu đã nhiều lần bị kết án và xử phạt hành chính nhưng không lấy đó làm bài học để cải sửa nay lại phạm tội.
Xét cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe và giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Xét tính chất, mức độ hành vi, hoàn cảnh kinh tế của bị cáo thấy không cần phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ của bị cáo 0,163g ma túy loại Heroine. Sau khi giám định, Cơ quan giám định hoàn lại 0,122g ma túy loại Heroine, đây là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu cho tiêu hủy.
Ngoài ra, đối với 01 mảnh giấy bạc gói ma túy, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật xét không có giá trị cần tịch thu cho tiêu hủy.
Trong vụ án này, Nguyễn Văn B khai mua ma túy của người không quen biết tên là N. Trong quá trình điều tra và lời khai của bị cáo tại phiên tòa, B khai chỉ biết người đàn ông đó tên là N; trú tại: khu D, xã Q, thị xã K, tỉnh Hải Dương. B không biết rõ được tên, tuổi, địa chỉ của người này. Qua xác minh, Công an xã Q xác định có công dân tên là Trần Văn N, sinh năm 1968, trú tại: thôn M, xã Q, thị xã K, tỉnh Hải Dương nhưng hiện nay N đã đi vắng khỏi địa phương nên Cơ quan điều tra chưa tiến hành làm việc được. Cơ quan điều tra đã cho B tiến hành nhận dạng công dân có tên Trần Văn N, sinh năm 1968 qua bản ảnh nhưng B không nhận dạng được là ai. Do đó, Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ và xem xét xử lý sau.
Về án phí: Bị cáo B bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 01 (Một) năm 07 (Bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 17/02/2024.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu cho tiêu hủy 0,122g ma túy loại Heroine, 01 mảnh giấy bạc và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật được đựng trong 01 phong bì niêm phong số 161/KL-KTHS của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận tài sản, vật chứng ngày 20/5/2024 của Công an thị xã Kinh Môn và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Kinh Môn).
Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn B phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Báo bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND thị xã Kinh Môn; - VKSND tỉnh Hải Dương; - Công an thị xã Kinh Môn; - Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương; - Sở Tư ph p tỉnh Hải Dương; - Chi cục THADS thị xã Kinh Môn; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Quyết |