vanban.org

Bản án 46/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đan Phượng, TP. Hà Nội Tuyên án 06/08/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Bị cáo Trần Văn T 17 (Mười bảy) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 19/02/2024.

Tịch thu tiêu hủy 01 bao gói chứa ma tuý Heroin, sau khi giám định đã được Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội niêm phong, 03 xi lanh bằng nhựa, gắn kim tiêm, còn nguyên chưa sử dụng; 03 lọ nước cất nhãn hiệu Novocain 3% bằng thủy tinh màu trắng trong, bên trong chứa dung dịch màu trắng … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Trần Văn T 17 (Mười bảy) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Trần Văn T 17 (Mười bảy) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 19/02/2024.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐAN PHƯỢNG
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2024/HS-ST
Ngày: 06 - 8 - 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAN PHƯỢNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Doãn Văn Tuyến.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thương

Ông Nguyễn Huy Hoàn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Toàn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 40/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2024/HSST-QĐ ngày 31 tháng 7 năm 2024, đối với:

- Bị cáo: Trần Văn T, sinh năm 1988 tại thành phố Hà Nội; nơi ĐKHKTT và cư trú: Cụm 5, xã Thọ A, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Tu và bà Trần Thị Chinh; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; danh bản, chỉ bản số 066 lập ngày 28/02/2024 của Công an huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/02/2024 đến nay; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Văn M, sinh năm 2004; nơi cư trú: Cụm 5, xã Thọ A, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội; vắng mặt.

- Người làm chứng: Anh Đinh Xuân T, sinh năm 1992; nơi cư trú: Thôn Cổ T, xã Phương Đ, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 9 giờ 05 phút ngày 19/02/2024 tại khu vực mương Đan Hoài thuộc xứ đồng Hùng Đông, xã Đan Phượng, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội, Tổ công tác Công an xã Đan Phượng phát hiện Trần Văn T có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Thu giữ 03 xi lanh bơm kim tiêm chưa sử dụng, 03 lọ nước cất Novocain 3%, 01 túi nilong màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng Tương khai là Heroin. Ngoài ra, còn thu giữ của Tương 01 chiếc xe mô tô Honda Wave X màu trắng đen, BKS 29X3-591.06. Tổ công tác đã lập biên bản thu giữ, niêm phong tang vật, đồng thời đưa Tương về trụ sở để làm rõ.

Tại Kết luận giám định số 1544/KL-KTHS ngày 28/02/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 túi nilong là ma túy loại Heroin, khối lượng 0,231 gam.

Tại Cơ quan điều tra, Trần Văn T khai nhận: Khoảng 7 giờ 30 phút ngày 19/02/2024, Tương điều khiển xe mô tô Honda Wave X màu trắng đen, BKS 29X3-591.06 đi từ nhà đến quán nước của bà Nguyễn Thị Tân, sinh năm 1966 ở Cụm 4, xã Đan Phượng thuộc khu vực mương Đan Hoài thuộc xứ đồng Hùng Đông, xã Đan Phượng tìm mua ma túy để sử dụng. Tại đây, Tương gặp một người đàn ông không quen biết làm nghề xe ôm, rồi nhờ người này đi mua hộ 200.000 đồng ma túy Heroin. Khoảng 15 phút sau, người đàn ông này quay lại đưa cho Tương 01 túi nilong màu trắng trong, kích thước khoảng 1x1cm bên trong chứa ma túy Heroin. Sau khi có được ma túy, Tương cất trong túi áo khoác đang mặc đi đến hiệu thuốc Tây (không nhớ tên và địa chỉ) mua 03 xi lanh bằng nhựa, 03 lọ nước cất Novocain 3% để sử dụng ma túy. Tương đang đi về quán nước của bà Tân thì bị phát hiện bắt giữ.

Bản Cáo trạng số 39/CT-VKS-ĐP ngày 15 tháng 7 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Trần Văn T khai nhận hành vi đã thực hiện như nội dung nêu trên, bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Tương từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy số ma túy đã niêm phong sau giám định, 03 xi lanh bằng nhựa, 03 lọ nước cất Novocain 3% và 01 túi ni long màu đen; trả lại anh Trần Văn M chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave X màu trắng đen, BKS 29X3-591.06.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra và truy tố, Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn T thành khẩn khai nhận hành vi của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, được chứng minh bằng lời khai người làm chứng, vật chứng và các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Khoảng 9 giờ 05 phút ngày 19/02/2024, tại khu vực mương Đan Hoài thuộc xứ đồng Hùng Đông, xã Đan Phượng, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội, bị cáo Trần Văn T đang có hành vi tàng trữ 0,231 gam ma túy loại Heroin, mục đích để sử dụng. Công an xã Đan Phượng đã phát hiện bắt giữ Tương và thu giữ các vật chứng.

Hành vi nêu trên của bị cáo Trần Văn T đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo về tội danh và điều luật đã viện dẫn trong bản cáo trạng là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo Trần Văn T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền của nhà nước về quản lý các chất ma túy. Chất ma túy có nhiều tác hại đối với sức khỏe của người sử dụng, nó còn là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc phát sinh tội phạm hình sự và tệ nạn xã hội, gây mất trật tự trị an xã hội. Vì vậy, cần phải có hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.

Hội đồng xét xử cũng xem xét: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự. Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, dó là thành khẩn khai báo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa. Ngoài ra, xét bị cáo phạm tội lần đầu, nhân thân chưa có tiền án và tiền sự nên xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt.

Theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự thì ngoài hình phạt chính còn quy định hình phạt bổ sung là phạt tiền, xét thấy bị cáo Trần Văn T là người lao động tự do không có điều kiện về kinh tế để đảm bảo cho việc thi hành án nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về nguồn gốc số ma túy: Bị cáo Trần Văn T khai đối tượng đi mua ma túy cho bị cáo là người nam giới làm nghề chạy xe ôm (không quen biết, không rõ lai lịch). Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không làm rõ được nhân thân của đối tượng nêu trên, ngoài lời khai của bị cáo Tương thì không có tài liệu, chứng cứ gì khác nên không có căn cứ để xem xét, xử lý.

Về vật chứng vụ án: Số ma túy thu giữ của bị cáo Trần Văn T, sau khi giám định đã được Cơ quan giám định niêm phong trong 01 bao gói, 03 xi lanh bằng nhựa có gắn kim tiêm, 03 lọ nước cất Novocain 3% và 01 túi ni lông màu đen, các vật chứng này không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Chiếc xe mô tô Honda Wave X màu trắng đen, BKS 29X3-591.06 bị thu giữ là tài sản Tương mượn của anh Trần Văn M, sinh năm 2004 ở Cụm 5, xã Đan Phượng, huyện Đan Phượng. Khi Tương mượn xe chỉ nói là đi ăn sáng, anh Minh không biết Tương dùng xe để đi mua ma túy vào ngày 19/02/2024.

Về chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave X màu trắng đen, BKS 29X3-591.06, bị cáo Trần Văn T khai mượn chiếc xe máy trên của anh Trần Văn M (em trai Tương) vào ngày 19/02/2024, khi mượn xe Tương chỉ nói là đi ăn sáng. Quá trình điều tra, anh Minh khai mua và đăng ký chủ sở hữu chiếc xe máy trên vào tháng 02/2023. Anh Minh cho Tương mượn làm phương tiện đi lại, ăn sáng vào ngày 19/02/2024, không biết việc Tương dùng chiếc xe đi mua ma túy để sử dụng nên anh Minh xin được trả lại chiếc xe.

Hội đồng xét xử thấy rằng chiếc xe trên anh Minh là người đăng ký chủ sở hữu, do anh Minh không biết việc Tương mượn chiếc xe để sử dụng vào việc phạm tội nên xem xét trả lại cho anh Minh là phù hợp pháp luật.

Án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Trần Văn T 17 (Mười bảy) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 19/02/2024.

2. Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

+ Tịch thu tiêu hủy 01 bao gói chứa ma tuý Heroin, sau khi giám định đã được Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội niêm phong, 03 xi lanh bằng nhựa, gắn kim tiêm, còn nguyên chưa sử dụng; 03 lọ nước cất nhãn hiệu Novocain 3% bằng thủy tinh màu trắng trong, bên trong chứa dung dịch màu trắng trong, còn nguyên chưa sử dụng và 01 túi ni lông màu đen, đã qua sử dụng.

+ Trả lại anh Trần Văn M 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave X màu trắng đen, BKS 29X3-591.06, số máy JA39E2857269, số khung RLHJA3921NY433035 (Vật chứng hiện lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đan Phượng, theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/7/2024 với Công an huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội).

3. Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Trần Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo Trần Văn T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trần Văn M vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được giao nhận bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo qui định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ