vanban.org

Bản án 46/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Căn cứ vào: khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 điều 147, khoản 1 khoản 4 Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 khoản 3 Điều 228, Điều 238, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều …

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Lan A được ly hôn với anh Chu Hùng K. [3]. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Lan A được quyền trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục hai con chung là cháu Chu Lan C, sinh ngày 02/01/2012 và cháu Chu Diễm M, sinh ngày 06/02/2017 (Hiện h… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp Hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? [1]. Căn cứ vào: khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 điều 147, khoản 1 khoản 4 Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 khoản 3 Điều 228, Điều 238, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều …
  • Căn cứ chính? Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH BA
TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 18 - 12 - 2024
“V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình”

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ KHƯƠNG VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BA-TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Bình Luyến.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Vương Thị Thu;

2. Ông Kiều Công Ích.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Kiều Huyền Phương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Ba;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.

Trong ngày 18 tháng 12 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 105/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2024 về: “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 14 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 59/2024/QĐST-HNGĐ ngày 02 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Lan A, sinh năm 1990; Địa chỉ: Khu D, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

* Bị đơn: Anh Chu Hùng K, sinh năm 1986 ; Địa chỉ: Khu D, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

(Chị Lan A có đơn xin xét xử vắng mặt, anh K vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, lời khai trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Lan A trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lan A và anh K tự nguyện tìm hiểu và kết hôn với nhau ngày 11 tháng 7 năm 2011 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị sinh sống tại nhà bố mẹ chồng tại khu D xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Vợ chồng chị làm nghề tự do, thời gian đầu cuộc sống hạnh phúc, tình cảm vợ chồng hòa thuận. Khoảng từ năm 2022, vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không hợp nhau nên cuộc sống gia đình không còn hạnh phúc. Mặc dù gia đình hai bên nội ngoại đã nhiều lần hòa giải để chị Lan A và anh K hàn gắn nhưng không thành, chị và anh K đã sống ly thân hơn 2 năm nay. Nay chị Lan A xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, hai bên không về chung sống với nhau được nên chị Lan A yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh K.

Về con chung: Chị và anh K có 02 con chung là cháu: Chu Lan C, sinh ngày 02/01/2012 và cháu Chu Diễm M, sinh ngày 06/02/2017. Sau ly hôn, chị Lan A xin được trực tiếp nuôi cả hai con chung, không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp cho gia đình và ruộng đất nông nghiệp: Chị Nguyễn Thị Lan A không đề nghị Tòa án giải quyết.

* Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ nhiều lần các văn bản tố tụng cho anh K nhưng anh K không đến Toà án để giải quyết, không có bản trình bày ý kiến, vắng mặt tại tất cả các phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.

Theo thông tin bố đẻ anh Chu Hùng K là ông Chu Văn K1 cung cấp cũng như kết quả xác minh tại địa phương xã Đ cho thấy: Anh K và chị A kết hôn với nhau năm 2011. Sau khi kết hôn, anh K và chị A về ở tại nhà ông K1 đến năm 2019 thì anh chị đi làm ăn xa, anh chị có gửi 2 con là cháu Chu Lan C, sinh ngày 02/01/2012 và cháu Chu Diễm M, sinh ngày 06/02/2017 nhờ chăm sóc, đưa đón đi học giúp. Nay chị A xin ly hôn, ông được biết anh K đồng ý ly hôn do anh chị không còn chung sống với nhau khoảng 5-6 năm nay, hiện nay, hai bên không có sự gắn bó về tình cảm. Hai con chung của anh chị đang ở cùng bố mẹ đẻ anh K tại khu D, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Chị A có công việc và thu nhập ổn định, chi phí sinh hoạt, học tập của các cháu do chị A gửi hàng tháng đầy đủ để nhờ ông bà chăm giúp các cháu. Anh K làm tự do, thu nhập không ổn định nên không thường xuyên gửi tiền về cho gia đình ông. Nguyện vọng của anh K và gia đình ông, sau khi anh K và chị A ly hôn, giao chị A có trách nhiệm nuôi hai con chung.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Ba tham gia phiên toà, phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án cho đến khi Hội đồng xét xử vào nghị án, Tòa án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Bị đơn không chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự là vắng mặt không có lý do; Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ, tình tiết của vụ án, các quy định của pháp luật đề nghị Hội đồng xét xử:

Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Lan A;

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Lan A được ly hôn với anh Chu Hùng K.

[2]. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Lan A được quyền trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc 02 con chung là cháu: Chu Lan C, sinh ngày 02/01/2012 và cháu Chu Diễm M, sinh ngày 06/02/2017 (hiện nay đang ở cùng với gia đình ông Chu Văn K1 (bố đẻ anh Chu Hùng K), tại khu D, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ).

Việc cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị Lan A không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

[3]. Về tài sản chung, vay nợ chung và các vấn đề khác: Chị A không yêu cầu quyết nên không xem xét.

[4]. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Lan A phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung giữa chị Nguyễn Thị Lan A và anh Chu Hùng K là tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn là anh K có đăng ký hộ khẩu thường trú tại Khu D, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ.

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các Văn bản tố tụng của Toà án nhưng anh K đều vắng mặt không có lý do, chị Nguyễn Thị Lan A đề nghị Toà án không tiến hành hoà giải nên vụ án không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 1, khoản 4 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Chị Nguyễn Thị Lan A có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Chu Hùng K đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào khoản 1, 3 Điều 228; điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt anh K, chị A là đúng quy định của pháp luật.

. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Lan A và anh Chu Hùng K kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật và đăng ký kết hôn nhau ngày 11 tháng 7 năm 2011 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ, do vậy hôn nhân giữa chị A và anh K là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình chung sống, vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, cuộc sống không hạnh phúc.

Hội đồng xét xử xét thấy: Chị Lan A và anh K hiện nay đã sống ly thân, không quan tâm đến cuộc sống của nhau; không còn thực hiện nghĩa vụ thương yêu, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, thực tế vợ. Xét thấy, yêu cầu xin ly hôn của chị A là có căn cứ. Vì vậy, cần xử cho chị A được ly hôn với anh K là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

. Về con chung: Chị A và anh K có 02 con chung là cháu Chu Lan C, sinh ngày 02/01/2012 và cháu Chu Diễm M, sinh ngày 06/02/2017. Hiện nay hai cháu đang ở cùng với gia đình ông Chu Văn K1 (bố đẻ anh K) tại khu D, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do Toà án xác minh, lời trình bày của đương sự, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hai con chung của chị A và anh K là cháu Chu Lan C và cháu Chu Diễm M hiện đang sống ổn định cùng với gia đình ông Chu Văn K1 (bố đẻ anh K) tại khu D, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Chị A có công việc và thu nhập ổn định, anh K vắng mặt không có lý do nên không có quan điểm về việc nuôi con, nên cần giao cho chị A được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cả 02 con chung là phù hợp. Việc cấp dưỡng nuôi con do anh K vắng mặt không có quan điểm; Chị A tự nguyện không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con là phù hợp.

. Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp cho gia đình, các vấn đề khác: Chị Lan A không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.

. Về án phí: Chị Lan A phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Căn cứ vào: khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 điều 147, khoản 1 khoản 4 Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 khoản 3 Điều 228, Điều 238, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Lan A được ly hôn với anh Chu Hùng K.

[3]. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Lan A được quyền trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục hai con chung là cháu Chu Lan C, sinh ngày 02/01/2012 và cháu Chu Diễm M, sinh ngày 06/02/2017 (Hiện hai cháu đang ở cùng với gia đình ông bà nội cháu là ông Chu Văn K1 tại khu D, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ).

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị Lan A không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung;

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

[4]. Về tài sản chung, vay nợ chung và các vấn đề khác: Không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra giải quyết.

[5]. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Lan A phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị Nguyễn Thị Lan A đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số: 0001979 ngày 01 tháng 10 năm 2024 của Chi cục thi hành án Dân sự huyện Thanh Ba.

Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ