vanban.org

Bản án 46/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Thu T đối với ông Nguyễn Khắc T1 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Thu T được ly hôn với ông Nguyễn Khắc T1. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Bà T và ông T1 có 02 con chung là cháu Nguyễn Huỳnh Hạo N1, sinh ngày 17/12/2014 và Nguyễn Huỳnh Nhã Đ, sinh ngày 12/11/2017. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn: Huỳnh Thị Thu T và bị đơn: Nguyễn Khắc T1"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Thu T đối với ông Nguyễn Khắc T1 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU ĐỨC
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 18- 07- 2024
V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Hạnh

Các hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Hoa

Ông Bùi Huy Xuân

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bảo Anh- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Nguyệt, Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 07 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 437/2023/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 11 năm 2023 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 14 tháng 06 năm 2024, quyết định hoãn phiên tòa số 22A/2024/QĐST-HNGĐ ngày 01 tháng 07 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Thu T, sinh năm 1988 (vắng mặt nhưng đã có đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ D, thôn C, xã S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Bị đơn: Ông Nguyễn Khắc T1, sinh năm 1985 (vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ D, thôn C, xã S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày:

Qua quá trình tìm hiểu, bà và ông T1 tự nguyện tiến đến hôn nhân vào năm 2013, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 94/2013, quyển số 01/2012 ngày 31/10/2013). Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì đến khoảng cuối năm 2019 thì hai vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn trầm trọng.

Nguyên nhân là do trong quá chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra cải vã do bất đồng quan điểm trên mọi phương diện, không hòa hợp trong cuộc sống hôn nhân. Trong thời gian này bà và ông T1 đã cố gắng hàn gắn nhưng vẫn không có kết quả gì. Khoảng 02 tháng nay, ông T1 đi đâu bà không rõ, không thấy về nhà.

Nay nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Khắc T1.

- Về con chung: Bà và ông T1 có 02 con chung là cháu Nguyễn Huỳnh Hạo N1, sinh ngày 17/12/2014 và Nguyễn Huỳnh Nhã Đ, sinh ngày 12/11/2017. Bà làm nghề giáo viên nên công việc và thu nhập ổn định, bà có chỗ ở cũng như thời gian chăm sóc con chủ động. Do đó, bà có nguyện vọng được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục 02 con chung cho đến khi con trưởng thành. Không yêu cầu ông T1 phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về chia tài sản chung và nợ chung: Bà và ông T1 tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đối với bị đơn: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị đơn ông Nguyễn Khắc T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt và không gửi ý kiến cho Tòa án. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu phát biểu ý kiến về việc chấp hành pháp luật của những người tiến hành tố tụng, tham gia tố tụng và quan điểm giải quyết trong vụ án: Về việc chấp hành pháp luật của những người tiến hành tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Châu Đức thụ lý vụ án đúng theo thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật về nội dung tranh chấp, thu thập chứng cứ đầy đủ và xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự. Hội đồng xét xử thực hiện đúng nguyên tắc xét xử trong phiên tòa sơ thẩm. Về việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng cố tình vắng mặt, vi phạm quy định tại Điều 70 và Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Sau khi thụ lý đơn yêu cầu ly hôn của bà T, Tòa án đã triệu tập ông Nguyễn Khắc T1 để làm việc, hòa giải hôn nhân nhưng ông T1 không đến Tòa làm việc. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa bà T và ông T1 ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên cần áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Thu T. Về con chung: Bà T và ông T1 có 02 con chung là cháu Nguyễn Huỳnh Hạo N1, sinh ngày 17/12/2014 và Nguyễn Huỳnh Nhã Đ, sinh ngày 12/11/2017, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, giao 02 con chung cho bà T được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi các con trưởng thành. Bà T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên ông T1 không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức, Tòa án nhận định như sau:

Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung; nơi cư trú hiện nay của ông Nguyễn Khắc T1 là tại Tổ D, thôn C, xã S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Bà Huỳnh Thị Thu T có đơn xin xét xử vắng mặt, ông Nguyễn Khắc T1 đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt bà T, ông T1 theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

2 Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Thu T và ông Nguyễn Khắc T1 tự nguyện tiến tới hôn nhân và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 94/2013, quyển số 01/2012 ngày 31/10/2013. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông T1 là hôn nhân hợp pháp.

Trong quá trình chung sống, bà T và ông T1 phát sinh nhiều mâu thuẫn, cuộc sống vợ chồng luôn trong tình trạng căng thẳng. Sau khi thụ lý đơn yêu cầu ly hôn của bà T, Tòa án đã triệu tập ông Nguyễn Khắc T1 để làm việc nhưng ông T1 vẫn vắng mặt, điều này chứng tỏ ông Nguyễn Khắc T1 không muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng.

Nhận thấy, mâu thuẫn giữa bà Huỳnh Thị Thu T và ông Nguyễn Khắc T1 ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống hôn nhân không thể kéo dài. Do đó, áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Thu T.

2.2 Về nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con: Bà T và ông T1 có 02 con chung là cháu Nguyễn Huỳnh Hạo N1, sinh ngày 17/12/2014 và Nguyễn Huỳnh Nhã Đ, sinh ngày 12/11/2017. Sau khi ly hôn, bà T có nguyện vọng được nuôi dưỡng 02 con chung đến khi các con trưởng thành, không yêu cầu ông T1 phải cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy: Bà Huỳnh Thị Thu T hiện nay có việc làm, thu nhập và có chỗ ở ổn định. Trong khi ông T1 không có ý kiến gì về việc nuôi con. Căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con, Hội đồng xét xử quyết định giao con chung là cháu Nguyễn Huỳnh Hạo N1 và Nguyễn Huỳnh N2 Đan cho bà Huỳnh Thị Thu T được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi các con trưởng thành (đủ 18 tuổi). Do bà T không yêu cầu cấp dưỡng nên ông T1 không phải cấp dưỡng nuôi con. 2.3 Về tài sản chung, nợ chung: Do đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí sơ thẩm: Bà Huỳnh Thị Thu T phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; 147, 227 và 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Thu T đối với ông Nguyễn Khắc T1 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Thu T được ly hôn với ông Nguyễn Khắc T1.

- Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Bà T và ông T1 có 02 con chung là cháu Nguyễn Huỳnh Hạo N1, sinh ngày 17/12/2014 và Nguyễn Huỳnh Nhã Đ, sinh ngày 12/11/2017.

Giao 02 con chung là cháu Nguyễn Huỳnh Hạo N1 và Nguyễn Huỳnh N2 Đan cho bà Huỳnh Thị Thu T được trực tiếp nuôi duỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi các con trưởng thành (đủ 18 tuổi). Ông Nguyễn Khắc T1 không phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, ông Nguyễn Khắc T1 được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền cản trở. Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người không trực tiếp nuôi con nếu họ lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc thăm con, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con chung, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí sơ thẩm: Bà Huỳnh Thị Thu T phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng số 0001544 ngày 08/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Đức. Như vậy, bà T đã nộp xong.

3. Trong hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ