vanban.org

Bản án 46/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng vào khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị Kim T. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Đặng Thị Kim Tvà anh Danh P. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án hôn nhân gia đình"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng vào khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 46/2024/HNGĐ-ST
Ngày 20-5-2024
“V/v Ly hôn giữa chị T và anh P ”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Thơm

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thu Trang và bà Trần Thị Mộng Lành.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mau - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên tham gia phiên tòa: Bà Lai Thị Ngọc Thúy - Kiểm sát viên.

Trong ngày 20 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 47/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 01 năm 2024 về việc tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 04 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 55/2024/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 04 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Đặng Thị Kim T, sinh năm 1998

Địa chỉ: Ấp H , xã N, huyện A , tỉnh Kiên Giang. (Có mặt)

2. Bị đơn: Anh Danh P, sinh năm 1993

Địa chỉ: Ấp H , xã N , huyện A , tỉnh Kiên Giang. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và những ý kiến tại Tòa án chị Đặng Thị Kim T trình bày như sau:

Chị Đặng Thị Kim T (gọi tắt là chị T) và anh Danh P (gọi tắt là anh P) chung sống với nhau vào năm 2015 hôn nhân tự nguyện được gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán của địa phương và thực hiện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đông Thái, huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang vào ngày 27/3/2017 theo quy định.

Vợ chồng chung sống đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn thường xảy ra cự cãi bất hòa làm cho đời sống chung của vợ chồng không còn hạnh phúc. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng là do anh P muốn mở cửa hàng bán vật liệu xây dựng nhưng chị T không đồng ý tuy nhiên anh P vẫn tự làm. Kết quả kinh doanh vật liệu xây dựng không đạt anh P kêu chị T cùng đi ra Phú Quốc làm ăn sinh sống nhưng chị T cũng không đồng ý vì muốn để con ở nhà thuận tiện việc học hành. Sau đó anh P vẫn quyết định một mình ra đi Phú Quốc làm ăn và bỏ mặc vợ con từ khoảng hơn 01 năm nay. Trong thời gian ở Phú Quốc thỉnh thoảng anh P có điện thoại về nhà thăm con và ngày tết có nhờ người đến đón con đi chơi nhưng vợ chồng không có gặp nhau. Nhận thấy vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, mỗi người đều có cuộc sống riêng và chị T không muốn duy trì cuộc sống hôn nhân với anh P nên yêu cầu Toà án giải quyết cho ly hôn với anh P .

Về con chung: Chị T xác định vợ chồng có một người con chung tên Danh Thảo M, sinh ngày 16/4/2016 hiện con chung đang sống với chị T. Khi ly hôn chị T có nguyện vọng được nuôi con chung và không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung của vợ chồng: Chị T xác định vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung của vợ chồng: Chị T xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình làm việc tại Tòa án và tại phiên tòa - bị đơn anh Danh P vắng mặt và không gửi văn bản trình bày ý kiến trước yêu cầu xin ly hôn của chị T.

Ý kiến trình bày của con chung: Cháu Danh Thảo My có nguyện vọng được sống với mẹ sau khi cha mẹ ly hôn.

Thu thập chứng cứ: Chứng cứ nguyên đơn cung cấp gôm Giấy chứng nhận kết hôn (bản chính); giấy căn cước công dân (Bản công chứng); giấy khai sinh của con chung vợ chồng. Bị đơn không cung cấp chứng cứ.

Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đảm bảo đúng theo quy định, bị đơn anh P đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tai phiên tòa đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, xử cho chị T được ly hôn với anh P; về con chung giao cháu Danh Thảo M cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng, ghi nhận ý kiến của chị T không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản chung và nợ chung vợ chồng không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn huyện An Biên. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.

Tại phiên tòa anh P đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do, căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử thống nhất xét xử vắng mặt anh P.

Về nội dung vụ án:

Quan hệ pháp luật: Chị T yêu cầu ly hôn với anh P và yêu cầu giải quyết về con chung khi ly hôn nên quan hệ pháp luật được xác định là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”.

Chị T và anh P chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đông Thái, huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang theo quy định của pháp luật, do đó hôn nhân của anh chị là hợp pháp.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị T, Hội đồng xét xử xét thấy: Qua lời trình bày của đương sự và kết quả xác minh từ chính quyền địa phương có cơ sở xác định đời sống hôn nhân của chị T và anh P đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do chị T và anh P bất đồng quan điểm sống vợ chồng không tìm được tiếng nói chung và không thể dung hòa với nhau nên mỗi người đều tìm cho mình lối đi riêng trong cuộc sống. Hiện tại anh chị đã ly thân khoảng hơn 01 năm, không còn quan tâm đến công việc và cuộc sống của nhau. Trong quá trình giải quyết vụ án anh chị không có thiện chí hàn gắn hôn nhân. Từ đó có cơ sở để nhận định mâu thuẫn vợ chồng đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu của chị T, giải quyết cho chị T ly hôn với anh P.

Về con chung: Chị T và anh P chung sống có một người con chung cháu Danh Thảo M, sinh ngày 16/4/2016, hiện tại con chung đang sống với chị T có cuộc sống ổn định và phát triển bình thường. Hiện tại chị T có thu nhập ổn định để nuôi dưỡng con chung, cháu Thảo M cũng có nguyện vọng được sống với mẹ sau khi cha mẹ ly hôn đồng thời anh P không phản đối nguyện vọng nuôi con chung của chị T. Do đó Hội đồng xét xử thống nhất giao cháu Danh Thảo M cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng sau khi anh chị ly hôn.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận ý kiến của chị T không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung của vợ chồng: Các đương sự không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về nợ chung của vợ chồng: Không ai có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Căn cứ Điều 144 và Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc chị T là nguyên đơn chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.

Về ý kiến phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng và đề nghị hướng giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát huyện An Biên tại phiên tòa là có cơ sở và căn cứ pháp luật nên Hội đồng xét xử đã xem xét và ghi nhận trong quá trình giải quyết vụ án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Áp dụng vào khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị Kim T.

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Đặng Thị Kim Tvà anh Danh P.

2. Về con chung: Giao cháu Danh Thảo M, sinh ngày 16/4/2016 cho chị Đặng Thị Kim T tiếp tục nuôi dưỡng sau khi chị Đặng Thị Kim T và anh Danh P ly hôn.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận ý kiến của chị Đặng Thị Kim T không yêu cầu anh Danh P cấp dưỡng nuôi con chung.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền đến thăm nom và chăm sóc con chung mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Khi cần thiết anh, chị có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về tài sản chung: Các đương sự không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

4. Về nợ chung: Không ai có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

5. Về án phí: Chị Đặng Thị Kim T có nghĩa vụ nộp tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0009153 ngày 12/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Chị Đặng Thị Kim T đã nộp đủ án phí.

6. Báo quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ngày 20/5/2024, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

"Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự"./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ