vanban.org

Bản án 46/2024/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị H đối với bà Trần Thị Hồng T và ông Phạm Văn T1.

Buộc bà Trần Thị Hồng T và ông Phạm Văn T1 liên đới trả cho bà Trần Thị H số tiền 1.022.623.000 đồng (một tỷ không trăm hai mươi hai triệu sáu trăm hai mươi ba nghìn đồng) gồm tiền gốc 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng) và tiền lãi 522.623.000 đồng (năm trăm hai mươi hai triệu sáu trăm hai mươi … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Trần T H "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản" Trần Thị H T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị H đối với bà Trần Thị Hồng T và ông Phạm Văn T1.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN THẠNH
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2024/DS-ST
Ngày: 14-6-2024
V/v “Tranh chấp hợp đồng
vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Minh Trọng

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thị Kham Ly

Ông Nguyễn Văn Hoàng

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Huyền Trân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim The – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 55/2024/TLST-DS ngày 28 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2024/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị H, sinh năm 1968

Địa chỉ: ấp N, xã H, huyện T, tỉnh Long An.

2. Bị đơn:

1. Bà Trần Thị Hồng T, sinh năm 1976

Địa chỉ: ấp N, xã H, huyện T, tỉnh Long An.

2. Ông Phạm Văn T1, sinh năm 1976

Địa chỉ: ấp N, xã H, huyện T, tỉnh Long An.

Hiện đang chấp hành án tại Trại giam X – Cục C Bộ C1, địa chỉ: xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

Các đương sự vắng mặt có đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện và trong quá trình chuẩn bị xét xử, nguyên đơn bà Trần Thị H trình bày: Vào ngày 13-4-2019, vợ chồng ông T1, bà T có vay của bà H số tiền 500.000.000 đồng, thỏa thuận lãi suất 2%/tháng, thỏa thuận thời hạn trả là 05 tháng. Đến hạn trả nợ nhưng ông T1, bà T chưa trả được nợ gốc và lãi cho bà H kéo dài cho đến hiện tại.

Bà H khởi kiện yêu cầu ông T1 và bà T liên đới trả số tiền nợ gốc là 500.000.000 đồng và yêu cầu tính lãi với mức 1,66%/tháng tính từ ngày 13-4-2019 đến ngày xét xử vụ án.

- Ý kiến bị đơn bà Trần Thị Hồng T: Bà T thống nhất vào ngày 13-4-2019, bà T và ông T1 có vay của bà H số tiền 500.000.000 đồng, thỏa thuận lãi suất 2%/tháng, thỏa thuận thời hạn trả là 05 tháng nhưng đến hạn do khó khăn kinh tế nên bà T và ông T1 chưa trả được tiền gốc và lãi cho bà H. Qua yêu cầu khởi kiện của bà H thì bà T đồng ý cùng ông T1 liên đới trả số tiền gốc là 500.000.000 đồng và tiền lãi với mức 1,66%tháng tính từ ngày vay cho đến ngày xét xử vụ án.

- Ý kiến bị đơn ông Phạm Văn T1: Khoản vay theo yêu cầu của bà H là đúng, ông T1 thống nhất với yêu cầu khởi kiện của bà H, đồng ý trả số tiền gốc 500.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 13-4-2019 đến ngày giải quyết vụ án với mức lãi suất 1,66%/tháng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh phát biểu:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của tố tụng dân sự từ giai đoạn thụ lý cho đến khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án. Những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng và đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Căn cứ các Điều 463, 466, 468 và 470 của Bộ luật Dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị H về việc yêu cầu trả lại số tiền gốc 500.000.000 đồng và tiền lãi với mức 1,66%/tháng tính từ ngày vay cho đến ngày xét xử.

Đương sự chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu toàn bộ tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:

Bà Trần Thị H khởi kiện yêu cầu bà Trần Thị Hồng T và ông Phạm Văn T1 liên đới trả tiền theo hợp đồng vay tài sản được quy định tại Bộ luật Dân sự và bị đơn cư trú tại xã H, huyện T, tỉnh Long An nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc xét xử vắng mặt tất cả các đương sự:

Xét thấy tất cả các đương sự vắng mặt và có đề nghị giải quyết, xét xử vụ án vắng mặt. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt tất cả các đương sự.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị H:

Đối với nợ gốc:

Căn cứ lời khai của các đương sự trình bày thống nhất vào ngày 13-4-2019, bà T và ông T1 có vay của bà H số tiền 500.000.000 đồng. Theo lời khai của bà T và ông T1 đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của bà H, đồng ý liên đới trả cho bà H số tiền gốc là 500.000.000 đồng. Xét thấy, ý kiến của bà T và ông T1 là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 466 của Bộ luật Dân sự nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Như vậy bà H khởi kiện yêu cầu bà T và ông T1 trả số tiền gốc 500.000.000 đồng là phù hợp, có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với tiền lãi:

Căn cứ giấy vay tiền ngày 13-4-2019 thể hiện hai bên có thỏa thuận lãi suất là 2%/tháng. Theo lời khai của bà T và ông T1 đồng ý liên đới trả cho bà H tiền lãi với mức 1,66%/tháng kể từ ngày vay. Xét thấy, ý kiến của bà T và ông T1 là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Tiền lãi được tính từ ngày 13-4-2019 đến ngày 14-6-2024 là 62 tháng 29 ngày, mức lãi suất 1,66%/tháng, như vậy tiền lãi được tính như sau:

500.000.000 đồng x 62 tháng 29 ngày x 1,66% = 522.623.333 đồng, được làm tròn là 522.623.000 đồng.

Tiền lãi và mức lãi bà H yêu cầu được bà T, ông T1 thống nhất và phù hợp với khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Như vậy bà T và ông T1 có nghĩa vụ liên đới trả cho bà H số tiền lãi là 522.623.000 đồng.

Về trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền: Được thực hiện theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11-01-2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

Về án phí:

Bà T và ông T1 có nghĩa vụ trả tiền nên có nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 42.678.690 đồng.

Bà H được chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện nên không phải chịu án phí, được hoàn trả tiền tạm ứng án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 92; Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 357, 463, 466, 468 và 470 của Bộ luật Dân sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị H đối với bà Trần Thị Hồng T và ông Phạm Văn T1.

Buộc bà Trần Thị Hồng T và ông Phạm Văn T1 liên đới trả cho bà Trần Thị H số tiền 1.022.623.000 đồng (một tỷ không trăm hai mươi hai triệu sáu trăm hai mươi ba nghìn đồng) gồm tiền gốc 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng) và tiền lãi 522.623.000 đồng (năm trăm hai mươi hai triệu sáu trăm hai mươi ba nghìn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Trần Thị Hồng T và ông Phạm Văn T1 có nghĩa vụ liên đới chịu án dân sự sơ thẩm là 42.678.690 đồng (bốn mươi hai triệu sáu trăm bảy mươi tám nghìn sáu trăm chín mươi đồng).

Bà Trần Thị H không phải chịu án phí, được hoàn trả tiền tạm ứng án phí đã nộp là 20.500.000 đồng (hai mươi triệu năm trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003549 ngày 28 tháng 3 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Toà án niêm yết bản án.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ