vanban.org

Bản án 46/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La Tuyên án 25/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 22 (Hai mươi hai) tháng tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/ Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Q

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH SƠN LA
Bản án số: 46/2023/HSST
Ngày 25 - 9 - 2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Q, TỈNH SƠN LA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bàn Văn Hoàng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông: Cà Văn Pống – Cán bô hưu trí.

2. Bà: Vì Thị Tiến – Cán bộ.

Thư ký phiên tòa: Ông Tòng Văn Cách - Thư ký Toà án huyện Q, tỉnh Sơn La.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, tỉnh Sơn La tham gia phiên toà:

Ông Hoàng Văn Máy - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Sơn La, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 48/2023/TLST - HS ngày 06 tháng 9 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2023/QĐXXST - HS ngày 15 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo.

Họ và tên: Hoàng Văn T, tên gọi khác: Không; sinh năm 1983; Tại xã C, huyện Q, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản L, xã C, huyện Q, tỉnh Sơn La: Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 4/12; Dân tộc: Kháng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Đảng phái đoàn thể: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hoàng Văn Nvà bà Hoàng Thị N (Đều dã chết); Có vợ là Hoàng Thị K và co 05 con, Con lớn nhất 18 tuổi, con nhỏ nhất 07 tuổi; Đều cư trú tại: Bản L, xã C, huyện Q, tỉnh Sơn La;

Tiền án: Tiền sự: Không. Nhân thân. Ngày 27/3/2013 bị Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Sơn La xử phạt 09 tháng tù về tội Chống người thi hành công vụ (đã được được xóa tích). Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/5/2023 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 29/5/2023 Hoàng Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 0,38 gam ma túy nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, thì bị bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ: 02 gói nilon màu trắngbên trong có chứa chất cục, bột màu trắng nghi là ma túy.

Cùng ngày Công an huyện Q, tỉnh Sơn La phối hợp với các cơ quan chức năng tiến hành xét nghiệm ma túy đối với Hoàng Văn Thanh, kết quả: Hoàng Văn Thanh dương tính với chất ma túy (MOP).

Cùng ngày Cơ quan điều tra Công an huyện Q phối hợp với Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La và Viện kiểm sát nhân dân huyện Q tiến hành bóc mở, niêm phong, cân tịnh, xác định khối lượng đối với 02 gói giấy màu trắng bên trong có chất cục, bột màu trắng nghi là ma túy thu giữ của Hoàng Văn T; Kết quả, chất cục, bột màu trắng gói thứ nhất có tổng khối lượng là 0,31 gam lấy toàn bộ làm mẫu gửi giám định ký hiệu A1. Chất hất cục, bột màu trắng gói thứ hai có tổng khối lượng là 0,07 gam lấy toàn bộ làm mẫu gửi giám định ký hiệu A2.

Tại bản kết luận giám định số: 1101/ KL – KTHS ngày 29/5/2023 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận “Mẫu ký hiệu A1, A2 gửi giám định là ma túy, có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/NĐ – CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. Khối lượng của mẫu gửi giám định A1 = 0,31 gam. A2 = 0,07gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,38 gam; loại Heroine”. Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 29/5/2023 Hoàng Văn T đi bộ từ nhà đến nhà Lò Văn H, sinh năm 1986 trú cùng bản với T để rủ H đi mua ma túy sử dụng, do không có tiền nên H không đi. T đi bộ ra trung tâm xã C, đi được một đoạn T xin nhờ xe máy của một người không quen biết đến ngã ba bản T, xã P, T đón xe buýt xuống khu vực xã C, huyện Q. Đến khu vực xã C, T xuống xe T không rõ bản gì của xã C, T đổi và mua được 02 gói ma túy từ một người đàn ông không quen biết với số tiền 300.000đ. Mua được ma túy T cất giấu ma túy vào nếp gấp tay áo bên trái rồi đi bộ theo đường Quốc lộ 6B về hướng xã C đợi đón xe buýt, trên đi thì T bị Công an huyện Q, tỉnh Sơn La phát hiện bắt người phạm tội bắt quả tang, thu giữ vật chứng nêu trên.

Tại bản cáo trạng số: 28/CT - VKS - QN ngày 15/8/2023 của Viện kiểm sát nhân huyện Q, tỉnh Sơn La đã truy tố Hoàng Văn T về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà Kiểm sát viên phát biểu luận tội vẫn giữ nguyên quyết định như cáo trạng truy tố đối với bị cáo Hoàng Văn T về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy; Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.

- Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 22 (Hai mươi hai) đến 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/5/2023.

Không phạt bổ sung – phạt tiền đối với bị cáo.

Vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đề nghị tuyên tiêu hủy: 01 phong bì công văn của Công an huyện Quỳnh Nhai được niêm phong dán kín; Mặt trước phong bì có ghi; 02 mảnh nilon màu trắng + 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở. Mặt sau tại mép dán giáp lai phong bì được dán đè giấy niêm phong số 098153 của Công an tỉnh Sơn La.

Bị cáo Hoàng Văn T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tại phiên tòa bị cáo Hoàng Văn T khai nhận, bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, tỉnh Sơn La đã truy tố đối với bị cáo về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự được Kiểm sát viên công bố tại phiên tòa phù hợp với bản cáo trạng bị cáo đã nhận do Kiểm sát viên đã tống đạt cho bị cáo. Do hành vi của bị cáo đã rõ rằng, nên bị cáo Hoàng Văn T không có ý kiến gì tranh luận với Kiểm sát viên tại phiên tòa.

C¨n cø vµo c¸c chøng cø vµ tµi liÖu có trong hồ sơ, ®· ® îc thÈm tra t¹i phiªn toµ; C¨n cø vµo kÕt qu¶ tranh luËn t¹i phiªn toµ trªn c¬ së xem xÐt ®Çy ®ñ, toµn diÖn chøng cø, ý kiÕn cña KiÓm s¸t viªn, bÞ c¸o và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Q, tỉnh Sơn La, Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, tỉnh Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa về thời gian, địa điểm và diễn biến sự việc phù hợp với bản cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát, bị cáo không có ý kiến gì thay đổi hay bổ sung gì và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng vật chứng thu giữ. Kết luận giám định “Khối lượng chất ma túy bị thu giữ là 0,38 gam”. Bị cáo khai mục đích mua để sử dụng cho bản thân.

Như vậy: Có đủ căn cứ kết luận: Ngày 29/5/2023 Công an huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La bắt quả tang Hoàng Văn T, sinh năm 1983; Nơi cư trú: Bản L, xã C, huyện Q, tỉnh Sơn La về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền về các chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, sức khỏe con người và sự phát triển bình thường của nòi giống dân tộc, phá hoại nhân cách con người, phá hoại hạnh phúc gia đình, gây xói mòn đạo lý, làm gia tăng tội phạm, bạo lực, vắt kiệt nhân lực, tài chính gia đình và làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc mua chất ma túy là Heroine để sử dụng là vi phạm pháp luật, nhưng vì nhu cầu sử dụng của bản thân, bị cáo cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo đã phạm vào tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, có quy định khung hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm tù; Tại phiên tòa bị cáo Hoàng Văn T khai nhận việc bị truy tố và bị Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Sơn La đưa ra xét xử là đúng người, đúng tội, không oan, sai cho bị cáo. Do vậy; bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật, nhằm cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo, để bị cáo có ý thức tuân theo pháp luật, để răn đe, phòng ngừa và thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tệ nạn ma tuý nói chung tại địa phương hiện nay.

Xét về nhân thân bị cáo Hoàng Văn T: Ngày 27/3/2013 bị Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Sơn La xử phạt 09 tháng tù về tội Chống người thi hành công vụ. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 70 của Bộ luật hình sự năm 2015 thì tiền án trên của bị cáo Hoàng Văn T đương nhiên được xóa án tích. Lẽ ra bị cáo phải lấy đó làm bài học để rèn luyện bản thân, trở thành công dân tốt cho gia đình và xã hội. Ngày 29/5/2023 Hoàng Văn T lại đi mua và tàng trữ 0,38 gam Herine trái phép nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân, thì bị bắt.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo là tình tiết giảm trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự. Qua xác minh, bị cáo hiện nay đang sống vào nghề lao động tự do, không có tài sản riêng có giá trị, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về nguồn gốc ma túy: Bị cáo Hoàng Văn T khai là mua với 01 người đàn ông Thanh không biết họ tên và địa chỉ cụ thể, chỉ có lời khai duy nhất của bị cáo. Nên Cơ quan điều tra Công an huyện Q, tỉnh Sơn La không có cơ sở điều tra xử lý đối với người phụ nữ đã bán ma túy cho bị cáo. Buộc bị cáo Hoàng Văn T phải chịu trách nhiệm hình sự đối với toàn bộ số 0,38 gam Heroine thu giữ nêu trên.

Đối với Lò Văn H; Qua lời khai của bị cáo Hoàng Văn T là ngày 29/5/2023 Thanh có đển rủ H cùng đi mua ma túy về sử dụng, do trước đó T vay của H 150.000đ và nói với H nếu mua được ma túy sẽ đem về cùng sử dụng để trừ nợ; Tuy nhiên, ngày 29/5/2023 Cơ quan điều tra Công an huyện Q, tỉnh Sơn La đã triệu tập Lò Văn H lên làm việc tại cơ quan điều tra Lò Văn H khai nhận không được thống nhất và hứa hẹn gì với Hoàng Văn T về việc đi mua ma túy về cùng nhau sử dụng. Mặt khác qua lời khai của Hoàng Thị M trú cùng bản là em dâu của H là có được nghe cuộc nói chuyện giữa T và H và khẳng định không được nghe việc T và H rủ nhau đi mua ma túy. Ngoài lời khai của H, T và M ra thì trong hồ sơ không có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh, nên không có căn cứ để xử lý đối với Lò Văn H.

Vật chứng vụ án: - 01 phong bì công văn của Công an huyện Q được niêm phong dán kín; Mặt trước phong bì có ghi; 02 mảnh nilon màu trắng + 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở. Mặt sau tại mép dán giáp lai phong bì được dán đè giấy niêm phong số 098153 của Công an tỉnh Sơn La là vật không có giá trị sử dụng, nên cần tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo Hoàng Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1/ Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

- Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 22 (Hai mươi hai) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 29/5/2023.

Không phạt bổ sung – phạt tiền đối với bị cáo.

2/ Vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tuyên tiêu hủy: 01 phong bì công văn của Công an huyện Q được niêm phong dán kín; Mặt trước phong bì có ghi; 02 mảnh nilon màu trắng + 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở. Mặt sau tại mép dán giáp lai phong bì được dán đè giấy niêm phong số 098153 của Công an tỉnh Sơn La.

Theo biên bản bàn giao vật chứng số 47/2023 ngày 08/9/2023 giữa Công an huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La.

3/ Về án phí: Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án - Bị cáo Hoàng Văn T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

BÞ c¸o Hoàng Văn T có quyÒn kh¸ng c¸o bản án trong h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngµy tuyªn ¸n là ngày25/9/2023./. N¬i nhËn:

T/m.héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm

- TA ND TØnh;

- Sở Tư pháp;

Cỡ chữ