vanban.org

Bản án 46/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Quốc Oai, TP. Hà Nội Tuyên án 07/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Bị cáo Lê Văn T 28 ( hai mươi T) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14 tháng 3 năm 2023.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, khoản 2, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Truy tố bị cáo Lê Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1, Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 - phạm tội mua bán trái phép…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Lê Văn T 28 ( hai mươi T) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14 tháng 3 năm 2023.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Q
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2023/HSST
Ngày 07 tháng 7 năm 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Q, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Long

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Hoa

2. Ông Nguyễn Quang Ngà

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu – Thẩm tra viên chính.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Q tham gia phiên tòa:

Bà Vi Thị Ngọc Kim – Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Q, thành phố Hà Nội đưa ra xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 44/2023/TLST - HS ngày 23 tháng 6 năm 2023; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2023/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 6 năm 2023 đối với:

Bị cáo Lê Văn T, sinh năm 1974; Đăng ký hộ khẩu: thôn Y, xã T, huyện Q, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Không; Văn hóa: 09/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Lê Văn H (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị L (đã chết); Vợ: Nguyễn Thị Q, sinh năm: 1978; Con: có 04 con, con lớn sinh năm 1997, con nhỏ sinh năm 2012. Tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: Ngày 26/5/2017, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Đánh bạc” đã xóa án tích. Bị cáo bị bắt quả tang từ ngày 14/3/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1, Công an thành phố Hà Nội; số giam: 2650 C2 buồng 9. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 30 phút, ngày 14 tháng 3 năm 2023, Lê Văn T điểu khiển chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH màu đen, biển số 29E1 – 993.74 đi từ nhà đến quán nước của anh Nguyễn Đăng T, sinh năm 1988, trú tại thôn 6, xã Cộng Hòa, huyện Q, thành phố Hà Nội ở khu vực ngã ba Dốc Quán thuộc xã Cộng Hòa, huyện Q uống nước. Tại đây, T gặp một người nam giới không quen biết (khoảng 35 tuổi, dáng người gầy, cao khoảng 1m60, mặc quần bò màu xanh, áo sơ mi kẻ màu đỏ, tóc màu đen), qua nói chuyện, người nam giới nhờ T mua hộ 03 viên ma túy tổng hợp dạng viên nén và 1,5 chỉ ma túy Ketamine. Do bản thân thường xuyên sử dụng ma túy nên T biết giá mua ma túy, T báo giá bán ma túy cho người nam giới “của em hết bốn triệu sáu, đưa trước cho anh 3.000.000 đồng, khi nào giao ma túy thì sẽ thanh toán nốt 1.600.000 đồng". Người nam giới đồng ý và đưa cho T 3.000.000 đồng. T hỏi “bao giờ em cần”, người này nói “anh lấy cho em trước 11 giờ tối em đi Bar”, T hẹn “khoảng 10 giờ tối ra đoạn nội đồng đường cầu 72 anh đưa cho”. Người mua ma túy hỏi xin số điện thoại của T để liên lạc nhưng T không cho, T nói “anh là T ở Y”. T cầm tiền rồi đi về nhà, còn người này đi đâu thì T không rõ.

Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu SH màu đen biển số 29E1 – 993.74 đi đến khu vực cổng làng Phụng Châu, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội gặp một người nam giới không quen biết (mặc quần áo tối màu, đeo khẩu trang, dáng người gầy đang ngồi trên xe máy Wave màu trắng không rõ biển số), mua được 03 viên ma túy tổng hợp dạng viên nén và 1,5 chỉ ma túy Ketamine với giá 4.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, T cất giấu ma túy vào túi áo bên phải T đang mặc rồi điều khiển xe môtô đến khu vực lối rẽ nội đồng đường 72 thuộc khu vực thôn 1, xã Cộng Hòa, huyện Q để bán cho khách. Khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, trong lúc đang chờ khách thì tổ công tác Công an huyện Q phối hợp cùng Công an xã Cộng Hòa phát hiện, bắt quả tang Lê Văn T cùng toàn bộ vật chứng gồm: 01 túi ni lông màu trắng kích thước (5x8)cm bên trong có 03 viên nén màu xám; 03 túi ni lông màu trắng kích thước khoảng (2,5x2,5)cm bên trong đều chứa tinh thể màu trắng.

Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn tạm giữ của T: 01 điện thoại hiệu oppo mầu đem cũ, đã qua sử dụng, bên trong có 01 sim điện thoại; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH màu đen, biển số 29E1 – 993.74.

Kết luận giám định số 1578/KL-KTHS ngày 22 tháng 3 năm 2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội kết luận:

“03 viên nén màu xám đều là ma túy loại MDMA, tổng khối lượng 1,374 gam; Tinh thể màu trắng bên trong 03 túi ni lông đều là ma túy Ketamine, tổng khối lượng 2,291 gam./.”

Cáo trạng số: 43/CT-VKSQO ngày 22 tháng 6 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1, Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Kiểm sát viên: Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm vụ án và đưa ra những chứng cứ, lý lẽ kết luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1, Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xét nhân thân của bị có tiền án, xác định đã xoá án tích, thái độ khai báo thành khẩn; bị cáo đã có thời gian phục vụ trong quận đội.

Đề nghị về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s, khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo mức án từ 28 tháng tù đến 34 tháng tù.

Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, khoản 2, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu và tiêu hủy: 01 phong bì mầu trắng được niêm phong, mặt sau của phong bì tại các mép dán có chữ ký của đối tượng Lê Văn T. Trả lại Lê Văn T 01 điện thoại hiệu oppo mầu đem cũ, đã qua sử dụng, bên trong có 01 sim điện thoại.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda SH màu đen, biển số 29E1 – 993.74 chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị Quỳnh, sinh năm 1978 trú tại thôn Y, xã T, huyện Q đã được nhận lại. Nên không để cập xử lý.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

Đối tượng bán ma tuý và đối tượng mua ma tuý của bị cáo Lê Văn T Cơ quan điều tra tiến hành xác minh nhưng không xác định được lý lịch cụ thể, nên không đủ căn cứ để tiếp tục xác minh làm rõ.

Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội, bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố không có tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng, bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật và xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo được sớm trở về gia đình làm lại cuộc đời.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và người làm chứng.

NHẬN ĐỊNH HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

[1] Quá trình điều tra, truy tố liên quan đến việc giải quyết vụ án (về hành vi, các quyết định tố tụng), Điều tra viên, Kiểm sát viên đã tiến hành đúng các quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2015;

[2] Nội dung: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai nhận: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 14 tháng 3 năm 2023, tại khu vực thôn 1, xã Cộng Hòa, huyện Q, bị cáo có hành vi mang theo 1,374 gam ma túy MDMA và 2,291 gam ma túy Ketamine nhằm mục đích bán ma tuý trái phép cho người khác, nhưng chưa kịp bán thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q phát hiện, bắt giữ cùng toàn bộ vật chứng. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo đủ yếu tố cầu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương. Xét nhân thân của bị cáo ngày 26/5/2017, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Đánh bạc”, xác định đã được xóa án tích. Do vậy cần thiết phải có hình phạt nghiêm khắc áp dụng đối với hành vi phạm tội của bị cáo mới có đủ tác dụng cải tạo, giáo dục thành người có ích cho xã hội và phòng ngừa làm gương cho người khác biết tôn trọng pháp luật.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo: Bị cáo không có các tình tiết tăng nặng hình phạt. Khi xem xét, quyết định mức hình phạt đối với bị cáo: Hội đồng xét xử xét thái độ của bị cáo tại phiên tòa thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình. Bị cáo đã có thời gian tham gia phục vụ trong quân đội được UBND xã T xác nhận. Do đó cần thiết áp dụng điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

[3] Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, khoản 2, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu và tiêu hủy: 01 phong bì mầu trắng được niêm phong, mặt sau của phong bì tại các mép dán có chữ ký của đối tượng Lê Văn T. Trả lại bị cáo Lê Văn T 01 điện thoại hiệu oppo mầu đem cũ, đã qua sử dụng, bên trong có 01 sim điện thoại do không liên quan đến hành vi phạm tội.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH màu đen, biển số 29E1 – 993.74 chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị Quỳnh, sinh năm 1978 trú tại thôn Y, xã T, huyện Q đã được cơ quan điều tra trả lại là phù hợp với quy định của pháp luật, nên không đề cập xử lý.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với đối tượng nam giới đã bán ma túy cho bị cáo ngày 14/03/2023 tại khu vực Cổng làng Phụng Châu, huyện Chương Mỹ. Cơ quan điều tra tiến hành xác minh với Công an xã Phụng Châu, huyện Chương Mỹ nhưng không xác định được là đối tượng nào nên không đủ căn cứ để tiếp tục xác minh làm rõ.

Đối với đối tượng nam giới mua ma túy của bị cáo ngày 14/03/2023. Cơ quan điều tra tiến hành xác minh tại Công an xã Cộng Hòa, huyện Q, nhưng không xác định được lý lịch, nên không đủ căn cứ để xử lý.

[4] Đề nghị của Kiểm sát viên - Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về Điều luật áp dụng, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, phần xử lý vật chứng có căn cứ, phù hợp các quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

[5] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm. và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các căn cứ, nhận định của Hội đồng xét xử;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 251; Điều 38; Điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Lê Văn T 28 ( hai mươi T) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14 tháng 3 năm 2023.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, khoản 2, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) phong bì mầu trắng được niêm phong, mặt sau của phong bì tại các mép dán có chữ ký của đối tượng Lê Văn T, giám định viên Nguyễn Hồng Quân và cán bộ công an huyện Bùi Thái Sơn. Trả lại bị cáo Lê Văn T 01 (một) điện thoại hiệu oppo mầu đem cũ, đã qua sử dụng, bên trong có 01 sim điện thoại, do điện thoại trong tình trạng không sử dụng được nên không kiểm tra được số imei của máy theo Biên bản bàn giao nhận vật chứng, tài sản số 55/2023/THA ngày 30 tháng 6 năm 2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Q, thành phố Hà Nội.

- Án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí số: 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Điều 23, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày 07 tháng 7 năm 2023./.

Cỡ chữ