vanban.org

Bản án 46/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An Tuyên án 30/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Căn cứ: Khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Lo Văn P 05 (Năm) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo, ngày 24/3/2023. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo Lo Văn P. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lo Văn Ph - Tàng trữ TP chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/ Căn cứ: Khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KỲ SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH NGHỆ AN
Bản án số: 46/2023/HSST
Ngày: 30/5/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN – TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Văn Phú

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thanh Vân, bà Xã Thị Cẩm Tú

Thư ký phiên tòa: Ông Già Bá Lầu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Vương Quốc Khánh – Kiểm sát viên.

Ngày 30/5/2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 38/2023/HSST ngày 04 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lo Văn P; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 15/02/1978; Nơi cư trú: bản N, xã H, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch : Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm rẫy; Trình độ học vấn: Không đi học; Họ tên cha: Lo Xén Ph – Sinh năm 1930; Họ và tên mẹ: Lo Thị Xén Ph– Sinh năm 1935; Vợ: Lo Thị M– Sinh năm 1980; Con: Có 04 ngừoi con, con lớn nhất sinh năm 2000, con nhỏ nhất sinh năm 2011; Hiện cha, mẹ, vợ, con của bị cáo cư trú tại: bản N, xã H, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An; Anh chị em ruột: Có 04 người, bị cáo là con đầu trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/3/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Kỳ Sơn tỉnh Nghệ An - Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Văn Hùng - Trợ giúp viên thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Nghệ An - Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào đầu tháng 03/2023, Lo Văn P đang xẻ gỗ trong rừng thuộc bản thì gặp một người đàn ông dân tộc Mông (P không rõ tên tuổi, địa chỉ). Sau khi nói chuyện được một lúc, P hỏi “Anh có hàng không?” ( ý là hỏi có ma túy bán không), người đàn ông đó trả lời “Có một ít”. Qúa trình trao đổi, P đã mua của người đàn ông dân tộc Mông đó 01 túi ma túy bên trong chứa nhiều viên ma túy màu hồng và 01 cục Heroine với tổng số tiền là 3.7000.000 đồng (Ba triệu bảy trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy, P cầm toàn bộ số ma túy trên đi về nhà, rồi chia nhỏ số ma túy này ra thành nhiều gói khác nhau nhằm mục đích để sử dụng và bán lẻ cho những người nghiện kiếm lời.

Trong quá trình cất dấu số ma túy trên P đã sử dụng hết 02 viên ma túy màu hồng và một ít Heroine. Số ma túy còn lại, P tiếp tục gói lại như cũ. Đến khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 24/3/2023, P đang ở nhà của mình tại bản N, xã H, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An, thì bị tổ công tác Công an huyện Kỳ Sơn phát hiện, bắt quả tang, thu giữ trong túi quần bên trái đang mặc của P 01 bao potylen màu đen, bên trong có chứa 12 gói chất màu trắng (nghi là ma túy) được bằng giấy trắng có chữ; thu giữ tại giường ngủ của P 01 bao potylen màu xanh, bên trong có chứa 06 viên nén màu hồng (nghi là ma túy), 01 cục chất màu trắng (nghi là ma túy) được gói bằng giấy báo có chữ. Tổ công tác đã niêm phong vật chứng và đưa P về về trụ sở Công an xã H để làm việc.

Ngày 27/3/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện Kỳ Sơn ra quyết định trưng cầu giám định đối với các chất nghi là ma túy thu giữ của Lo Văn P.

Tại Bản kết luận giám định số 373/KL-KTHS (Đ2-MT) ngày 31/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Nghệ An kết luận:

- Mẫu viên nén màu hồng thu giữ của Lo Văn P có khối lượng là 0,54 gam (Không phẩy năm mươi tư gam).

- Mẫu chất màu trắng thu giữ của Lo Văn P gửi tới giám định chất ma túy Heroine (tên khoa học: Diacetylmorphine). Số chất màu trắng thu giữ của Lo Văn P có khối lượng là 3,91 gam (Ba phẩy chín mươi mốt gam).

Về vật chứng của vụ án:

Tổ công tác Công an huyện Kỳ Sơn đã thu giữ 0,54 gam chất ma túy Methamphetamine (đã lấy giám định hết 0,2 gam Methamphetamine còn lại gam 0,34 gam Methamphetamine) và 3,91 gam chất ma túy Heroine (đã lấy giám định hết 0,3 gam Heroine, còn lại 3,61 gam Heroine). Hiện số vật chứng trên đã được Cơ quan CSĐT Công an huyện Kỳ Sơn chuyển giao để bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Kỳ Sơn.

Tại bản cáo trạng số 46/CT - VKS ngày 28/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An đã truy tố bị cáo Lo Văn P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo, Viện kiểm sát đề nghị:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015. Xử phạt bị cáo Lo Văn P từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo không tranh luận gì về tội danh và điều luật áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo thống nhất như quan điểm bào chữa của người bào chữa, không có tranh luận gì thêm

Lời nói sau cùng, bị cáo nói: Hành vi của bị cáo là sai trái, bị cáo rất ăn năn, hối cải, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều thực hiện đúng pháp luật.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận:

Khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 24/3/2023, tại khu vực bản N, xã H, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An, Lo Văn P đã có hành vi tàng trữ 0,54 gam (Không phẩy năm mươi bốn gam) chất ma túy Methamphetamine và 3,91 gam (Ba phẩy chín mươi mốt gam) chất ma túy Heroine nhằm mục đích để sử dụng và bán kiếm lời.

Theo hướng dẫn tại Điều 4 chương II của Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính Phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật hình sự năm 2015 thì số Methamphetamine thu giữ của Lo Văn P có khối lượng là 0,54 gam, số Heroine thu giữ của Lo Văn P có khối lượng là 3,91 gam, tổng khối lượng của cả hai chất ma túy là 4,45 gam (bốn phẩy bốn mươi lăm gam). Khối lượng này ít hơn khối lượng các chất ma túy quy định tại Điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự, nên hành vi của Lo Văn P đã phạm vào tội "Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự

Căn cứ vào lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Lo Văn P đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản1 Điều 249 BLHS như bản cáo trạng đã truy tố là đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là liều lĩnh, coi thường pháp luật. Hành vi đó không những đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý nhà nước về các chất ma túy mà còn gây hoang mang lo lắng cho quần chúng nhân dân và nhiều hệ lụy khác cho xã hội. Vì vậy phải xử lý thật nghiêm hành vi của bị cáo mới có tác dục giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo thấy rằng:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải. Vì vậy bị cáo Lo Văn P được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015.

Từ việc đánh giá về tính chất mức độ của hành vi phạm tội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo Lo Văn P là đối tượng nghiện ma túy, mục đích bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy là để bán kiếm lời rồi dùng số tiền do bán ma túy mà có tiếp tục mua ma túy để sử dụng. Hành vi của bị cáo không những gây tác hại đến sức khoẻ, làm băng hoại đạo đức mà còn là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an và an toàn trên địa bàn. Khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ để nhằm mục đích mua bán la tương đối lớn. Vì vậy phải có một mức án nghiêm khắc, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ dài để có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích, cũng như góp phần phòng ngừa chung cho xã hội như đề nghị của đại diện VKS là có căn cứ. Tuy nhiên xét thấy, sau khi phạm tội bị cáo hành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải, do đó cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.

Xét bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, thu nhập không ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

Trong vụ án này đối với người đàn ông dân tộc Mông mà Lo Văn P khai đã bán ma túy cho P, do không xác định được lai lịch cụ thể nên chưa có căn cứ để xử lý, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.

Về xử lý vật chứng:

Khi bắt quả tang cơ quan CSĐT Công an huyện Kỳ Sơn đã thu giữ tại Lo Văn P 0,54 gam chất ma túy Methamphetamine, đã lấy giám định hết 0,2 gam, còn lại gam 0,34 gam; 3,91 gam chất ma túy Heroine, đã lấy giám định hết 0,3 gam, còn lại 3,61 gam Heroine. Xét thấy 0,34 gam chất ma túy Methamphetamine và 3,61 gam chất ma túy Heroin còn lại thu giữ của Lo Văn P là vật thuộc danh mục nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

1/ Căn cứ: Khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Lo Văn P 05 (Năm) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo, ngày 24/3/2023.

Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo Lo Văn P.

2/Về xử lý vật chứng: Áp dụng: Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 47 Bộ luật hình sự.

Tịch thu tiêu hủy thấy 0,34 gam (Không phẩy ba mươi tư gam) chất ma túy Methamphetamine và 3,61 gam (Ba phẩy sáu mươi mốt gam) chất ma túy Heroin còn lại thu giữ của Lo Văn P.

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Công an huyện Kỳ Sơn và Chi cục thi hành án dân sự huyện Kỳ Sơn ngày 28/4/2023)

3/Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điều 23 Nghị quyết 326/2016/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Lo Văn P phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.

4/ Về quyền kháng cáo: Bị cáo Lo Văn P có quyền kháng cáo lên Toà án cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ