- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngần Văn P - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƢNG YÊN Bản án số: 46/2023/HS-ST Ngày 24/3/2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƢNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Văn Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Nguyên
Ông Nguyễn Viết Thủy
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Đông Hà - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Ông Đào Đức Thông - Kiểm sát viên.
Ngày 24/3/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 36/2023/TLST-HS ngày 08 tháng 3 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2023/QĐXXST-HS ngày 09/3/2023 đối với bị cáo:
Ngần Văn P, sinh năm 2003, tại xã M, huyện T, tỉnh Sơn La; Nơi ĐKHKTT: Bản P, xã M, huyện T, tỉnh Sơn La; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Ngần Văn T và bà Ngần Thị B; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hưng Yên từ ngày 15/12/2022, theo Lệnh trích xuất có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho bị cáo Ngần Văn P: Bà Đỗ Minh Ánh- Trợ giúp viên Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Hưng Yên (có mặt).
* Người làm chứng:
- Anh Lê Văn A, sinh năm 1982.
Địa chỉ: Thôn 11, xã N, huyện V, tỉnh Hưng Yên (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 15/12/2022, tại khu vực Nghĩa trang nhân dân thôn 14, xã N, huyện V, tỉnh Hưng Yên, Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh Hưng Yên bắt quả tang Ngần Văn P, sinh năm 2003, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại bản P, xã M, huyện T, tỉnh Sơn La đang mang ma túy đi bán trái phép, thu giữ tại túi quần trước bên phải P đang mặc 01 gói nilon màu hồng, bên trong có 26 gói nilon màu trắng đều chứa các cục và bột màu trắng, được niêm phong ký hiệu MT1; tại túi quần sau bên phải P đang mặc số tiền 100.000 đồng.
Kết luận giám định số 06 ngày 18/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hưng Yên xác định: Chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong ký hiệu MT1 là heroine, có khối lượng 1,413 gam.
Bị cáo Ngần Văn P thừa nhận: Vào khoảng 20 giờ ngày 14/12/2022, tại khu vực Nghĩa trang nhân dân thôn 14, xã N, huyện V, bị cáo đã mua 2.000.000 đồng được 27 gói heroine của người đàn ông không rõ tên tuổi địa chỉ. Ngày 15/12/2022 bị cáo đã bán cho người đàn ông không rõ tên, tuổi địa chỉ 01 gói với giá 100.000 đồng, còn lại 26 gói heroine chưa kịp bán đã bị bắt quả tang.
Đối với người đàn ông bán heroine cho P và mua heroine của P, do P không biết chính xác tên, tuổi, địa chỉ cụ thể; P trao đổi, mua bán ma túy trực tiếp với người bán, người mua, không ai chứng kiến nên không đủ thông tin xác minh xử lý và chưa đủ căn cứ xác định ngày 15/12/2022 P đã bán 01 gói heroine với giá 100.000 đồng.
* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:
- Số tiền 100.000 đồng đang gửi tại tài khoản tạm thu chờ xử lý của Cục thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên mở tại Kho bạc Nhà nước tỉnh Hưng Yên.
- 1,36 gam heroine hoàn lại sau giám định; các mảnh nilon gói ma túy; 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định, được bảo quản trong kho vật chứng Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên.
Cáo trạng số 45/CT-VKS-P1 ngày 06 tháng 3 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên đã truy tố Ngần Văn P về tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên trình bày luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo P và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Ngần Văn P phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy. Áp dụng: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Ngần Văn P từ 03 năm đến 03 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 15/12/2022. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Trả lại bị cáo P số tiền 100.000đ; tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số ma túy hoàn lại sau giám định; giảm cho bị cáo 50% án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Ngần Văn P thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, đề nghị được xử mức án thấp nhất.
Người bào chữa cho bị cáo nhất trí về tội danh đối với bị cáo P và đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xử bị cáo mức án thấp nhất; Miễn áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng:
Cơ quan điều tra - Công an tỉnh Hưng Yên và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo khai báo tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình và không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Lời khai nhận tội của Ngần Văn P tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trước Cơ quan điều tra và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, bao gồm: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ, niêm phong; Kết luận giám định số 06/KL-KTHS(MT) ngày 18/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên. Đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 15/12/2022, tại khu vực nghĩa trang nhân dân thôn 14, xã N, huyện V, tỉnh Hưng Yên, Ngần Văn P mang 1,413 gam heroine đi bán trái phép nhưng chưa kịp bán đã bị bắt quả tang.
Bị cáo Ngần Văn P là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được ma túy là chất Nhà nước độc quyền quản lý nhưng vì động cơ lợi nhuận từ việc mua bán các chất ma túy nên bị cáo vẫn mua ma túy về để sử dụng và bán cho người nghiện khác để kiếm lời. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự. Lượng ma túy bị cáo mang đi mua bán có khối lượng 1,413 gam, do vậy Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên truy tố Ngần Văn P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Đối với người bán heroine cho P ngày 14/12/2022 và người mua heroine của P ngày 15/12/2022, do P không biết chính xác tên, tuổi, địa chỉ và không có ai biết, chứng kiến việc mua bán nên chưa đủ thông tin xác minh. Kiến nghị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hưng Yên tiếp tục xác minh xử lý hành vi này.
Về tính chất hành vi phạm tội của bị cáo:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, từ việc mua bán, sử dụng trái phép chất ma túy còn là nguồn gốc phát sinh nhiều loại tội phạm khác gây mất trật tự trị an xã hội, hủy hoại sức khỏe con người, gây ảnh hưởng đến kinh tế, hạnh phúc gia đình nên cần phải xử lý nghiêm minh để giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo là người dân tộc Thái, sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, có đơn xin giảm nhẹ hình phạt nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt:
Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo như đã phân tích ở trên, cần tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, nhằm cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung:
Bị cáo có không có việc làm ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền đối với bị cáo.
Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
Đối với số tiền 100.000đ bị cáo khai là tiền bán ma túy ngày 15/12/2022 cho một người đàn ông không biết tên tuổi, địa chỉ nhưng chưa có đủ căn cứ xác minh, xử lý hành vi mua bán trái phép chất ma túy này nên trả lại cho bị cáo P.
Toàn bộ mẫu vật sau giám định là chất ma túy nhà nước nghiêm cấm mua bán, tàng trữ và các mảnh nilon gói ma túy, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định không còn giá trị nên tịch thu tiêu hủy.
Về án phí:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Tại phiên tòa bị cáo và Người bào chữa đề nghị xin miễn án phí, tuy nhiên bị cáo bị thu giữ 100.000đ trong quá trình điều tra nên chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên giảm 50% án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
- Tuyên bố: Bị cáo Ngần Văn P phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy.
- Áp dụng: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt: Bị cáo Ngần Văn P 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 15/12/2022.
2. Về vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Trả lại bị cáo Ngần Văn P số tiền 100.000đ (một trăm nghìn đồng) đang gửi tại tài khoản tạm thu chờ xử lý của Cục thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên mở tại Kho bạc Nhà nước tỉnh Hưng Yên.
- Tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số “06” bên trong chứa 1,36 gam heroine, các mảnh nilon gói ma túy và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định.
(Số lượng, chủng loại, đặc điểm, tình trạng các vật chứng nêu trên được mô tả theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 10/3/2023 giữa Cục thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hưng Yên).
3. Án phí: Bị cáo Ngần Văn P phải chịu 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT 1 - TAND tối cao; - VKSND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Hưng Yên; - CQ CSĐT-Công an tỉnh Hưng Yên; - Phòng HSNV-Công an tỉnh Hưng Yên; - Cục THADS tỉnh Hưng Yên; - Bị cáo; - Người bào chữa; - Trại giam; - Lưu HSVA, VP, THS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Văn Tuấn |