vanban.org

Bản án 46/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Sơn Trà, TP Đà Nẵng Tuyên án 19/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

I. Tuyên bố: Các bị cáo Đinh Phạm Anh L, Ngô Mai Phước L và Tiêu Đình

Th phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự sơ thẩm - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? I. Tuyên bố: Các bị cáo Đinh Phạm Anh L, Ngô Mai Phước L và Tiêu Đình
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2023/HS-ST
Ngày: 19-6-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Vũ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Đời

Ông Nguyễn Kim Thành

- Thư ký phiên toà: Ông Võ Ngọc Tín - Thư ký Tòa án nhân dân quận Sơn

Trà, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng

tham gia phiên tòa: Ông Hà Hoàng Đạt - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành

phố Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 34/2023/TLST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Đinh Phạm Anh L (tên gọi khác: Không), sinh năm 2000, tại Đà Nẵng;

nghề nghiệp: Thợ cắt tóc; nơi cư trú: Thôn M, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng; trình độ học vấn 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Viết T, sinh năm 1971 và bà Phạm Hy H, sinh năm 1973, gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ 02; có vợ Trần Thị Hoàng M, sinh năm 2002, có 01 con sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 25/11/2022; có mặt tại phiên tòa.

2. Tiêu Đình Th (tên gọi khác: Không), sinh năm 2000, tại tỉnh Thừa Thiên

Huế; nghề nghiệp: Thợ cắt tóc; nơi cư trú: Tổ 10, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng; trình độ học vấn 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tiêu Đình H, sinh năm 1968 và bà Lê Thị L, sinh năm 1970, gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ 02; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 11/05/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang xử phạt 12 tháng tù giam về tội “Cướp tài sản”; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 25/11/2022; có mặt tại phiên tòa.

3. Ngô Mai Phước L (tên gọi khác: Không), sinh năm 2001, tại Đà Nẵng;

nghề nghiệp: Nhân viên giao hàng; nơi cư trú: Tổ 65, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng; trình độ học vấn 11/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai T (đã chết) và bà Ngô Thị H, sinh năm 1964, gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con út; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 25/11/2022; có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Nguyễn Trà V, sinh năm 1997; địa chỉ: Tổ 02, thị trấn K, huyện P,

tỉnh Quảng Nam; vắng mặt.

2. Ông Dương Minh Q, sinh năm 2003; địa chỉ: Tổ 04, phường Tr, thành

phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt.

3. Ông Nguyễn Thiện Â, sinh năm 1984; địa chỉ: Số 7 Thanh Th, phường T,

quận H, thành phố Đà Nẵng; vắng mặt.

4. Bà Phạm Hy H, sinh năm 1973; địa chỉ: Thôn M, xã H, huyện H, thành

phố Đà Nẵng; có mặt.

5. Ông Tiêu Đình H, sinh năm 1968; địa chỉ: Tổ 10, phường H, quận C,

thành phố Đà Nẵng; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tranh luận tại

phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Để có ma túy cần sa nhằm mục đích sử dụng và bán lại kiếm lời, từ đầu tháng

8/2022, thông qua ứng dụng Telegram, Đinh Phạm Anh L đã nhiều lần liên hệ và mua ma túy cần sa của một đối tượng (Chưa xác định nhân thân, lai lịch), trong đó có 04 lần mua, mỗi lần mua 50g ma túy cần sa với số tiền 8.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, L chế biến, phân lẻ và đóng gói ma túy cần sa thành ba loại (Búp ma túy cần sa để nguyên, búp ma túy cần sa xay nhỏ và búp ma túy cần sa quấn thành dạng điếu), mỗi gói ma túy chứa khoảng 01g ma túy cần sa, L bán với số tiền từ 200.000 đồng đến 250.000 đồng/01g. Khi có người liên hệ mua ma túy, L và người mua ma túy trực tiếp thỏa thuận giá cả, địa điểm giao ma túy với nhau qua tài khoản Telegram “Thảo Dược 420 Đà Nẵng” và Zalo “Mập” đăng kí bằng số điện thoại di động 0792.581.044 của L. Sau đó, L trực tiếp đi bán hoặc giao cho shipper (không xác định) hoặc giao cho Tiêu Đình Th hoặc Ngô Mai Phước L đi bán ma túy cần sa cho các đối tượng đã liên hệ mua ma túy. Sau khi bán được ma túy, Tiêu Đình Th nhận tiền trực tiếp từ người mua ma túy, rồi đem về giao lại cho L; Ngô Mai Phước L nhận tiền trực tiếp từ người mua ma túy, rồi sử dụng tài khoản ngân hàng MB Bank số 4842345676868 (mang tên Ngô Mai Phước L) chuyển khoản tiền qua tài khoản ngân hàng MB Bank số 2200020022021 (mang tên Đinh Phạm Anh L) cho L hoặc chuyển khoản tiền qua tài khoản ngân hàng Techcombank số 19032913294017 (mang tên Tiêu Đình Th) cho Th, để Th rút tiền ra đưa lại cho L. Mỗi lần L hoặc Th bán được ma túy giúp L thì hưởng lợi được tiền phí giao ma túy từ 40.000 đồng đến 50.000 đồng/ 01 lần bán. Ngoài ra, L còn nhiều lần trực tiếp giao hoặc nhờ Th giao số lượng lớn ma túy cần sa (mỗi lần từ khoảng 30 đến 50 gói) cho Ngô Mai Phước L để L cất giấu và bán cho các đối tượng mua ma túy. Từ ngày 01/8/2022 đến ngày 20/10/2022, Đinh Phạm Anh L và Ngô Mai Phước L, Tiêu Đình Th đã nhiều lần mua bán trái phép chất ma túy. Cụ thể như sau:

* Đối với Đinh Phạm Anh L:

- Lần 1: Vào khoảng 13 giờ 55 ngày 03/8/2022, Đinh Phạm Anh L bán cho

Nguyễn Trà V (SN: 1997; Trú: Tổ 2, thị trấn K, huyện P, tỉnh Quảng Nam) 02g ma túy cần sa loại búp để nguyên, với số tiền 400.000 đồng và phí giao ma túy 50.000 đồng. Giao ma túy tại một khách sạn (chưa xác định địa điểm) gần cầu Trần Thị Lý, thành phố Đà Nẵng (Chưa xác định người giao ma túy). V đã chuyển khoản 450.000 đồng tiền mua ma túy cho L qua tài khoản ngân hàng MB Bank số 2200020022021 của L. Ma túy cần sa V đã sử dụng một mình hết.

- Lần 2: Vào khoảng 20 giờ 00 ngày 14/8/2022, Đinh Phạm Anh L bán cho

Nguyễn Trà V (Lai lịch như trên) 01g ma túy cần sa loại búp để nguyên, với số tiền 200.000 đồng và phí giao ma túy 50.000 đồng (chưa xác định địa điểm mua bán ma túy cụ thể và chưa xác định người giao ma túy). V đã chuyển khoản 250.000 đồng tiền mua ma túy cho L qua tài khoản ngân hàng MB Bank số 2200020022021 của L. Ma túy cần sa V đã sử dụng một mình hết.

- Lần 3: Vào khoảng 00 giờ 30 ngày 16/8/2022, Đinh Phạm Anh L bán cho

Nguyễn Trà V (Lai lịch như trên) 02 điếu ma túy cần sa, với số tiền 200.000 đồng và phí giao ma túy 50.000 đồng (chưa xác định địa điểm mua bán ma túy cụ thể và chưa xác định người giao ma túy). V đã chuyển khoản 250.000 đồng tiền mua ma túy cho L qua tài khoản ngân hàng MB Bank số 2200020022021 của L. Ma túy cần sa V đã sử dụng một mình hết.

- Lần 4: Vào khoảng 20 giờ 00 ngày 16/8/2022, Đinh Phạm Anh L bán cho

Nguyễn Trà V 01g ma túy cần sa loại búp để nguyên, với số tiền 200.000 đồng và phí giao ma túy 50.000 đồng (chưa xác định địa điểm mua bán ma túy cụ thể và chưa xác định người giao ma túy). V đã chuyển khoản 250.000 đồng tiền mua ma túy cho L qua tài khoản ngân hàng MB Bank số 2200020022021 của L. Ma túy cần sa V đã sử dụng một mình hết.

- Lần 5: Vào khoảng 16 giờ 30 ngày 22/8/2022, tại K248/6 Dương Đình Ng,

thành phố Đà Nẵng, Đinh Phạm Anh L bán cho Nguyễn Trà V (Lai lịch như trên) 02g ma túy cần sa loại búp để nguyên, với số tiền 400.000 đồng và phí giao ma túy 50.000 đồng (chưa xác định người giao ma túy). V đã chuyển khoản 450.000 đồng tiền mua ma túy cho L qua tài khoản ngân hàng MB Bank số 2200020022021 của L. Ma túy cần sa V đã sử dụng một mình hết.

- Lần 6: Vào khoảng 15 giờ 00 ngày 27/8/2022, tại K248/6 Dương Đình Ng,

thành phố Đà Nẵng, Đinh Phạm Anh L bán cho Nguyễn Trà V (Lai lịch như trên) 01g ma túy cần sa loại búp để nguyên, với số tiền 200.000 đồng và phí giao ma túy 50.000 đồng (chưa xác định người giao ma túy). V đã chuyển khoản 250.000 tiền mua ma túy cho L qua tài khoản ngân hàng MB Bank số 2200020022021 của L. Ma túy cần sa V đã sử dụng một mình hết.

- Lần 7: Vào khoảng 17 giờ 00 ngày 08/9/2022, tại K248/6 Dương Đình Ng,

thành phố Đà Nẵng, Đinh Phạm Anh L bán cho Nguyễn Trà V 01g ma túy cần sa loại búp để nguyên, với số tiền 200.000 đồng và phí giao ma túy 50.000 đồng (chưa xác định người giao ma túy). V đã chuyển khoản 250.000 đồng tiền mua ma túy cho L qua tài khoản ngân hàng MB Bank số 2200020022021 của L. Ma túy cần sa V đã sử dụng một mình hết.

* Đối với Ngô Mai Phước L:

- Lần 1: Vào ngày 30/9/2022, Nguyễn Trà V sử dụng số điện thoại

0938.863.586 liên hệ với L qua số điện thoại 0792.581.044 để mua 01g ma túy cần sa loại búp để nguyên, với số tiền 200.000 đồng và phí giao ma túy 50.000 đồng. Sau đó, L nói Ngô Mai Phước L giao ma túy cho Nguyễn Trà V. L mang 01g ma túy cần sa đến địa chỉ K248/6 Dương Đình Ng, thành phố Đà Nẵng bán cho V và nhận số tiền 250.000 đồng qua tài khoản ngân hàng MB Bank số 4842345676868 của L. Tiền bán ma túy 200.000 đồng L đã chuyển lại cho L, Ngô Mai Phước L hưởng lợi 50.000 đồng. Ma túy cần sa V đã sử dụng một mình hết.

- Lần 2: Vào ngày 06/10/2022, Nguyễn Trà V liên hệ với Đinh Phạm Anh L

hỏi mua 01g ma túy cần sa loại búp để nguyên, với số tiền 200.000 đồng và phí giao ma túy 50.000 đồng. L đồng ý và nói Ngô Mai Phước L đi bán ma túy cho Nguyễn Trà V. Sau đó, L mang 01g ma túy cần sa đến địa chỉ K248/6 Dương Đình Ng, thành phố Đà Nẵng bán cho V và nhận số tiền 250.000 đồng qua tài khoản ngân hàng MB Bank số 4842345676868 của L. Tiền bán ma túy 200.000 đồng L đã chuyển lại cho L, Ngô Mai Phước L hưởng lợi 50.000 đồng. Ma túy cần sa V đã sử dụng một mình hết.

- Lần 3: Vào ngày 13/10/2022, Nguyễn Trà V liên hệ với Đinh Phạm Anh L

hỏi mua 02 điếu ma túy cần sa, với số tiền 200.000 đồng và phí giao ma túy 50.000 đồng. L đồng ý và nói Ngô Mai Phước L đi bán ma túy cho Nguyễn Trà V. Sau đó, L mang 02 điếu ma túy cần sa đến địa chỉ K248/6 Dương Đình Ng, thành phố Đà Nẵng bán cho V và nhận số tiền 250.000 đồng qua tài khoản ngân hàng MB Bank số 4842345676868 của L. Tiền bán ma túy 200.000 đồng L đã chuyển lại cho L, Ngô Mai Phước L hưởng lợi 50.000 đồng. Ma túy cần sa V đã sử dụng một mình hết.

- Lần 4: Vào ngày 15/10/2022, tài khoản Zalo “No Name” (chưa xác định lai

lịch) sử dụng số điện thoại 0762.404.042 liên hệ với Đinh Phạm Anh L hỏi mua 01g ma túy cần sa loại búp để nguyên, với số tiền 270.000 đồng và phí giao ma túy 50.000 đồng. L đồng ý và nói Ngô Mai Phước L đi bán ma túy cho đối tượng này. Đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, Ngô Mai Phước L đi đến trước khách sạn Công Thương số 1038 Ngô Quyền, thành phố Đà Nẵng bán 01g ma túy cần sa loại búp để nguyên cho đối tượng có tài khoản Zalo “No name” và nhận 320.000 đồng. Tiền bán ma túy 270.000 đồng L đã chuyển lại cho L, Ngô Mai Phước L hưởng lợi 50.000 đồng.

- Lần 5: Vào ngày 16/10/2022, Dương Minh Q (SN: 2003; Trú: Tổ 4, phường

Tr, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi) sử dụng số điện thoại 0899928134 liên hệ với Đinh Phạm Anh L mua 01g ma túy cần sa loại xay nhỏ, với số tiền 250.000 đồng và phí giao ma túy 50.000 đồng. L đồng ý và nói Ngô Mai Phước L đi bán ma túy cho đối tượng này. Đến khoảng 01 giờ 00 cùng ngày, Ngô Mai Phước L bán 01g ma túy cần sa cho Q tại vỉa hè trước nhà số 28 Thái Phiên, thành phố Đà Nẵng và nhận 300.000 đồng. Tiền bán ma túy 250.000 đồng L đã chuyển lại cho L, Ngô Mai Phước L hưởng lợi 50.000 đồng. Ma túy cần sa Q đã sử dụng một mình hết. Ngoài ra, trước đó L và Ngô Mai Phước L đã bán ma túy cần sa cho Q thêm 04 (Bốn) lần khác, nhưng không xác định cụ thể mỗi lần.

- Lần 6: Vào ngày 18/10/2022, một nam thanh niên (Chưa xác định nhân thân

lai lịch) sử dụng số điện thoại 0985.045.068 và tài khoản Zalo “Duy Mini” liên hệ với Đinh Phạm Anh L để mua 02 điếu ma túy cần sa với số tiền 200.000 đồng và phí giao ma túy 50.000 đồng. L đồng ý và nói Ngô Mai Phước L đi bán ma túy cho đối tượng này. Đến khoảng 22 giờ 00 phút cùng ngày, Ngô Mai Phước L bán 02 điếu ma túy cần sa cho đối tượng này tại đường Mỹ Khê 3, thành phố Đà Nẵng và nhận 250.000 đồng. Tiền bán ma túy 200.000 đồng L đã chuyển lại cho L, Ngô Mai Phước L hưởng lợi 50.000 đồng.

- Lần 7: Vào ngày 19/10/2022, một nam thanh niên (Chưa xác định nhân thân

lai lịch) sử dụng số điện thoại 0867.436.826 liên hệ với Đinh Phạm Anh L hỏi mua 01g ma túy cần sa loại xay nhỏ, với số tiền 250.000 đồng và phí giao ma túy 50.000 đồng. L đồng ý và nói Ngô Mai Phước L đi bán ma túy cho đối tượng này. Đến khoảng 17 giờ 00 phút cùng ngày, Ngô Mai Phước L bán 01g ma túy cần sa cho đối tượng này tại đầu kiệt số 142 Nguyễn Huy Tưởng, thành phố Đà Nẵng và nhận 300.000 đồng. Tiền bán ma túy 250.000 đồng L đã chuyển lại cho L, Ngô Mai Phước L hưởng lợi 50.000 đồng. Ngoài ra, trước đó L và Ngô Mai Phước L đã bán ma túy cần sa cho người này thêm 05 lần khác, nhưng không xác định được cụ thể mỗi lần.

- Lần 8: Ngày 19/10/2022, Nguyễn Trà V liên hệ với Đinh Phạm Anh L hỏi

mua 02 điếu ma túy cần sa, với số tiền 200.000 đồng và phí giao ma túy 50.000 đồng. L đồng ý và nói Ngô Mai Phước L đi bán ma túy cho Nguyễn Trà V. Sau đó, L mang 02 điếu ma túy cần sa đến địa chỉ K248/6 Dương Đình Ng, thành phố Đà Nẵng bán cho V và nhận số tiền 250.000 đồng. Tiền bán ma túy 200.000 đồng L đã chuyển lại cho L, Ngô Mai Phước L hưởng lợi 50.000 đồng. Ma túy cần sa V đã sử dụng một mình hết.

- Lần 9: Vào ngày 20/10/2022, một nam thanh niên (Chưa xác định nhân thân

lai lịch) sử dụng số điện thoại 0868.821.845 và tài khoản Zalo “Hùng” liên hệ với Đinh Phạm Anh L mua 01 gam ma túy cần sa loại búp để nguyên, với số tiền 200.000 đồng và phí giao ma túy 50.000 đồng. L đồng ý và nói Ngô Mai Phước L đi bán ma túy cho đối tượng này. Đến khoảng 13 giờ 00 phút cùng ngày, Ngô Mai Phước L bán 01 gam ma túy cần sa cho người này tại đầu kiệt số 99 Thái Thị Bôi, thành phố Đà Nẵng và nhận 250.000 đồng. Toàn bộ số tiền này L giữ trong người cho đến khi bị lực lượng công an kiểm tra, phát hiện, tạm giữ.

- Lần 10: Vào ngày 20/10/2022, một nam thanh niên (Chưa xác định nhân

thân lai lịch) liên hệ với Đinh Phạm Anh L mua 02 điếu ma túy cần sa, với số tiền 450.000 đồng và phí giao hàng 50.000 đồng. L đồng ý và nói Ngô Mai Phước L đi bán ma túy cho đối tượng này. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, Ngô Mai Phước L bán 02 điếu ma túy cần sa cho người này tại đầu kiệt số 129 Phạm Như Xương, thành phố Đà Nẵng và nhận 500.000 đồng. Toàn bộ số tiền này L giữ trong người cho đến khi bị lực lượng công an kiểm tra, phát hiện, tạm giữ.

Đến khoảng 16 giờ 00 ngày 20/10/2022, Ngô Mai Phước L điều khiển xe mô

tô nhãn hiệu Sirius, BKS: 43R1-8918 đi đến khu vực ngã tư đường Hồ Nghinh – Đông Kinh Nghĩa Thục, quận Sơn Trà thì bị lực lượng Công an quận Sơn Trà phát hiện Lộc đang tàng trữ ma túy cần sa để bán trái phép cho các đối tượng có nhu cầu mua.

* Tang vật thu giữ:

- Của Ngô Mai Phước L:

+ 08 (Tám) ống nhựa, bên trong có chứa thảo mộc khô đã xay nhuyễn và 17

(Mười bảy) ống nhựa bên trong có chứa thảo mộc khô được cuốn thành dạng điếu. Ký hiệu niêm phong: L1;

+ 28 (Hai mươi tám) gói ni lông, kích thước (05x08)cm, bên trong có chứa

thảo mộc khô. Ký hiệu niêm phong: L2;

+ 01 xe mô tô nhãn hiệu Sirius, BKS: 43R1-8918, số khung:

RLCS5C6409Y168432, số máy: 5C64168442;

+ 01 điện thoại di động Iphone 13 Promax, màu xanh, số IMEI:

359978120375674, gắn sim số: 0775.428.201.

+ Số tiền: 6.300.000 đồng.

- Của Đinh Phạm Anh L: 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax, màu xanh,

số IMEI: 354245334296962, gắn sim số: 0899.240.916.

* Tại Kết luận giám định số 221/KLMT-KTHS, ngày 28 tháng 10 năm

2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - CATP Đà Nẵng:

- Thảo mộc khô trong mẫu ký hiệu L11, L12 gửi giám định là ma tý, loại Cần

sa; khối lượng mẫu L11: 8,09 gam; L12: 5,73 gam.

- Thảo mộc khô trong hộp niêm phong ký hiệu L2 gửi giám định là ma túy

loại Cần sa; khối lượng mẫu L2: 31,65 gam.

* Đối với Tiêu Đình Th: Từ ngày 26/9/2022 đến ngày 19/10/2022, Tiêu

Đình Th đã nhiều lần giúp sức cho Đinh Phạm Anh L mua bán trái phép chất ma túy, cụ thể như sau:

- Ngày 04/10/2022, L giao ma túy cần sa cho Th để Th đi bán ma túy cần sa

cho 03 đối tượng (chưa xác định), nhận tiền bán ma túy 900.000 đồng rồi đưa lại cho L số tiền 760.000 đồng và hưởng lợi tiền phí giao ma túy 140.000 đồng. Tuy nhiên, do thời gian đã lâu, bán ma túy cho nhiều người nên không xác định được cụ thể mỗi lần.

- Ngày 10/10/2022, L giao ma túy cần sa cho Th để Th đi bán ma túy cần sa

04 đối tượng (chưa xác định), nhận tiền bán ma túy 2.040.000 đồng rồi đưa lại cho L số tiền 1.804.000 đồng và hưởng lợi tiền phí giao ma túy 200.000 đồng. Tuy nhiên, do thời gian đã lâu, bán ma túy cho nhiều người nên không xác định được cụ thể mỗi lần.

- Vào một ngày giữa tháng 9/2022 (Không rõ ngày), một ngày cuối tháng

9/2022 (Không rõ ngày) và ngày 18/10/2022, L giao ma túy cho Th để Th đi giao ma túy cần sa của L cho Ngô Mai Phước L tại vỉa hè đường Tiểu La Nghị, thành phố Đà Nẵng, mỗi lần giao từ 30 (Ba mươi) đến 50 (Năm mươi) gói ma túy cần sa. Th không hưởng lợi gì từ việc đi giao ma túy này, do là nhân viên tại quán cắt tóc của L, nên khi được L nhờ, Th đi giúp.

* Tang vật tạm giữ của Tiêu Đình Th: 01 điện thoại di động Iphone 11, màu

đen, số IMEI 356929767839160, gắn sim số: 0703.505.607.

Ngoài ra, Đinh Phạm Anh L và Ngô Mai Phước L đã nhiều lần bán ma túy

cần sa cho những người khác, tuy nhiên do thời gian đã lâu, bán ma túy cho nhiều người nên không nhớ được cụ thể mỗi lần. Qua kiểm tra thông tin tài khoản ngân hàng của Ngô Mai Phước L và L, xác định: Từ ngày 01/8/2022 đến ngày 20/9/2022, Ngô Mai Phước L đã chuyển khoản tiền bán ma túy cho L tổng cộng 138 (Một trăm ba mươi tám) lần, với tổng số tiền 58.100.000 đồng (Năm mươi tám triệu một trăm ngàn đồng); L đã chuyển khoản tiền phí giao ma túy cho Ngô Mai Phước L tổng cộng 03 (Ba) lần, với tổng số tiền 180.000 đồng (Một trăm tám mươi ngàn đồng). Từ ngày 26/9/2022 đến ngày 19/10/2022, Ngô Mai Phước L đã chuyển khoản tiền bán ma túy cho Tiêu Đình Th tổng cộng 05 (Năm) lần, với tổng số tiền là 23.450.000 đồng (Hai mươi ba triệu bốn trăm năm mươi ngàn đồng), để Th rút ra đưa lại cho L. Do là học viên tại quán cắt tóc của L, nên Thanh giúp L giao ma túy cho Ngô Mai Phước L mà không hưởng lợi gì.

* Kết quả xét nghiệm chất ma túy: Đinh Phạm Anh L, Tiêu Đình Th, Dương

Minh Q và Nguyễn Trà V “Dương tính” với chất ma túy cần sa; Ngô Mai Phước L “ âm tính” với chất ma túy.

Bản cáo trạng số 34/CT-VKS-ST ngày 19/4/2023 của Viện kiểm sát nhân

dân quận Sơn Trà truy tố các bị cáo Đinh Phạm Anh L, Tiêu Đình Th và Ngô Mai Phước L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội

dung bản cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà vẫn giữ nguyên quyết định

truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm b khoản 2 khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều

51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Đinh Phạm Anh L từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù. Phạt bổ sung 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

- Áp dụng điểm b khoản 2 khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều

38; Điều 58 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Tiêu Đình Th từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù. Phạt bổ sung 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng.

- Áp dụng điểm b khoản 2 khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều

51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Ngô Mai Phước L 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù. Phạt bổ sung 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố

tụng hình sự. Đề nghị HĐXX tuyên:

+ Tịch thu tiêu hủy 01 hộp giấy niêm phong, đựng mẫu hoàn trả theo Kết

luận giám định số 221/GĐ-MT ngày 28/10/2022, có đóng dấu Phòng Kỹ thuận hình sự - CATP Đà Nẵng, chữ ký giám định viên.

+ Truy thu, nộp ngân sách Nhà nước Đinh Phạm Anh L số tiền 6.000.000

đồng, Tiêu Đình Th số tiền 340.000 đồng và Ngô Mai Phước L số tiền 10.000.000 đồng từ việc bán ma túy cần sa.

+ Tịch thu sung công: 01 điện thoại di động Iphone 13 Promax, màu xanh,

số IMEI: 359978120375674, gắn sim số 0775.428.201; 01 điện thoại di động Iphone 11, màu đen, số IMEI 356929767839160, gắn sim số 0703.505.607; 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax, màu xanh, số IMEI: 354245334296962 là tài sản do các bị cáo sử dụng để mua bán trái phép chất ma túy cần sa.

+ Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 750.000 đồng là tiền bán ma túy

của Ngô Mai Phước L.

+ Trả lại số tiền 5.550.000 đồng cho Ngô Mai Phước L do không liên quan

đến hành vi phạm tội nhưng tiếp tục quy trữ để đảm bảo thi hành án.

+ Trả lại sim số 0899.240.916 cho Đinh Phạm Anh L do không liên quan

đến hành vi phạm tội.

+ Đối với xe mô tô nhãn hiệu Sirius, BKS: 43R1-8918, số khung:

RLCS5C6409Y168432, số máy: 5C64168442 do anh Nguyễn Thiện  (sinh năm 1984; trú: Số 07 Thanh Th, phường T, quận H) đứng tên chủ sở hữu. Anh  cho Ngô Mai Phước L mượn xe mô tô này nhưng không biết L sử dụng để đi bán trái phép chất ma túy nên Cơ quan CSĐT Công an quận Sơn Trà không đề cập xử lý và trả lại xe mô tô này cho anh  là phù hợp.

Bị cáo Đinh Phạm Anh L, Tiêu Đình Th và Ngô Mai Phước L không tranh

luận, đối đáp gì với đại diện Viện kiểm sát.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Tiêu Đình H và bà Phạm Hy H

không có ý kiến tranh luận gì.

Bị cáo Đinh Phạm Anh L, Tiêu Đình Th và Ngô mai Phước L nói lời sau

cùng: Các bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định

tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Về xác định tội phạm: Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ

hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng đã truy tố; lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra tội phạm. Có đủ cơ sở kết luận: Từ ngày 01/8/2022 đến ngày 20/10/2022, sau nhiều lần mua ma túy cần sa của một đối tượng (chưa xác định lai lịch), Đinh Phạm Anh L trực tiếp bán ma túy và nhiều lần giao ma túy cần sa cho Ngô Mai Phước L, Tiêu Đình Th hoặc nhân viên giao hàng (chưa xác định) đem bán cho các đối tượng có nhu cầu mua ma túy để sử dụng. Trong đó đã xác định được 17 lần Đinh Phạm Anh L bán trái phép chất ma túy cần sa; 10 lần Ngô Mai Phước L đi bán trái phép chất ma túy cần sa giúp Đinh Phạm Anh L; 07 lần Tiêu Đình Th đi bán trái phép chất ma túy cần sa giúp Đinh Phạm Anh L và 03 lần Th nhận ma túy cần sa của L để giao cho Ngô Mai Phước L cất giữ và bán cho các đối tượng có nhu cầu mua ma túy. Đến khoảng 16 giờ 00 ngày 20/10/2022, tại khu vực ngã tư đường Hồ Nghinh - Đông Kinh Nghĩa Thục, quận Sơn Trà, lực lượng Công an quận Sơn Trà phát hiện Ngô Mai Phước L đang tàng trữ ma túy cần sa (là số ma túy cần sa còn lại do Th giao cho Ngô Mai Phước L vào ngày 18/10/2022) để bán trái phép cho các đối tượng có nhu cầu mua. Hội đồng xét xử kết luận, hành vi của các bị cáo Đinh Phạm Anh L, Tiêu Đình Th và Ngô Mai Phước L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Điều 251 Bộ luật Hình sự như cáo trạng số 34/CT-VKS-ST ngày 19 tháng 4 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng đã truy tố là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo thì thấy:

Tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, ma túy là loại chất gây nghiện vô cùng

nguy hiểm, nó không chỉ gây tổn hại đến đời sống kinh tế, sức khoẻ và tinh thần của con người mà còn là một trong những nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội. Thế nhưng thông qua ứng dụng Telegram bị cáo L đã nhiều lần liên hệ mua ma túy cần sa về chế biến phân lẻ và đóng gói ma túy cần sa thành các loại như búp ma túy cần sa để nguyên, búp ma túy cần sa xay nhỏ và búp ma túy cần sa quấn thành dạng điếu nhằm mục đích sử dụng và bán lại kím lời. Mỗi gói ma túy chứa khoảng 01g ma túy cần sa, L bán với số tiền từ 200.000 đồng đến 250.000 đồng/01g, khi có người liên hệ mua ma túy L trực tiếp thỏa thuận giá cả địa điểm giao ma túy với nhau qua tài khoản Telegram “Thảo Dược 420 Đà Nẵng” và Zalo “Mập” đăng kí bằng số điện thoại di động 0792.581.044 của L, đồng thời trực tiếp đi bán hoặc giao cho Tiêu Đình Th hoặc Ngô Mai Phước L hoặc giao cho shipper (không xác định) đi bán ma túy cần sa cho các đối tượng đã liên hệ mua ma túy. Từ ngày 01/8/2022 đến ngày 20/10/2022, Đinh Phạm Anh L 17 lần bán trái phép chất ma túy cần sa, Ngô Mai Phước L 10 lần đi bán trái phép chất ma túy cần sa giúp Đinh Phạm Anh L và Tiêu Đình Th 07 lần đi bán trái phép chất ma túy cần sa giúp Đinh Phạm Anh L và 03 lần Th nhận ma túy cần sa của L để giao cho Ngô Mai Phước L cất giữ và bán cho các đối tượng có nhu cầu mua ma túy. Các bị cáo đã phạm tội với tình tiết định khung tăng nặng là phạm tội 02 lần trở lên nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Hành vi của bị cáo L, Th và Ngô Mai Phước L là nguy hiểm cho xã hội, đã

xâm phạm chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, đi ngược lại với chủ trương của Đảng và Nhà nước trong việc phòng chống và đẩy lùi tệ nạn ma túy; Bị cáo Th có nhân thân xấu ngày 11/5/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng xử phạt 12 tháng tù giam về tội “Cướp tài sản”. Do đó, cần phải xử phạt nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra, cần tiếp tục cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.

Trong vụ án này, bị cáo Đinh Phạm Anh L có vai trò chính, cung cấp ma túy

cần sa, tìm người mua và thỏa thuận giá cả, địa điểm giao ma túy, rồi chỉ đạo Tiêu Đình Th và Ngô Mai Phước L đi giao ma túy, nhận tiền từ người mua chuyển lại cho L; bị cáo Th còn nhận ma túy cần sa của L giao lại cho Ngô Mai Phước L cất giữ và bán cho các đối tượng có nhu cầu mua ma túy. Bị cáo L, Th và Ngô Mai Phước L không có sự bàn bạc phân công cụ thể, không lên kế hoạch về việc mua bán trái phép chất ma túy, Th và Ngô Mai Phước L bán ma túy giúp L để được hưởng tiền phí giao hàng, hành vi của các bị cáo không có sự câu kết chặt chẽ với nhau mà chỉ là đồng phạm giản đơn; bị cáo Th và Ngô Mai Phước L biết rõ mục đích mua bán trái phép chất ma túy cần sa của L khi đi giao ma túy cho người mua ma túy nên bị cáo L phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo Th và Ngô Mai Phước L.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đinh Phạm Anh L, Ngô

Mai Phước L và Tiêu Đình Th: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội các bị cáo đã

thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt. Đồng thời, bị cáo Luân có hoàn cảnh gia đình khó khăn con nhỏ, có ông nội là người có công cách mạng được Nhà nước tặng thưởng Huân, Huy chương kháng chiến và cha là người có công với thành phố Đà Nẵng trong việc đấu tranh truy đuổi bắt tội phạm đặc biệt nguy hiểm được thành phố trao tặng bằng khen; bị cáo Ngô Mai Phước L có ông ngoại được truy tặng Huy hiệu 40 năm tuổi đảng và hiện là thương binh loại A, hạng 4/4 nên cần áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo L và Ngô Mai Phước L.

Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự,

cần xử phạt bổ sung bị cáo Đinh Phạm Anh L 20.000.000 đồng; bị cáo Ngô Mai Phước L và Tiêu Đình Th mỗi bị cáo 10.000.000 đồng.

Xét đề nghị của vị đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, điều

luật áp dụng, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và mức hình phạt đối với các bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về xử lý vật chứng:

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Sirius, BKS: 43R1-8918, số khung:

RLCS5C6409Y168432, số máy: 5C64168442 do anh Nguyễn Thiện  (sinh năm 1984; trú: Số 07 Thanh Th, phường T, quận H) đứng tên chủ sở hữu. Anh  cho Ngô Mai Phước L mượn xe mô tô này nhưng không biết L sử dụng để đi bán trái phép chất ma túy nên Cơ quan CSĐT Công an quận Sơn Trà không đề cập xử lý và trả lại xe mô tô này cho anh  là phù hợp.

Đối với 01 hộp giấy niêm phong, đựng mẫu hoàn trả theo Kết luận giám

định số 221/GĐ-MT ngày 28/10/2022, có đóng dấu Phòng Kỹ thuật hình sự - CATP Đà Nẵng, chữ ký giám định viên nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với số tiền 6.300.000 đồng của Ngô Mai Phước L, trong đó 750.000

đồng là tiền bán ma túy nên tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước và số tiền 5.550.000 đồng do không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho Ngô Mai Phước L. Tuy nhiên cần tiếp tục quy trữ số tiền 5.550.000 đồng để đảm bảo thi hành án.

Truy thu, nộp ngân sách Nhà nước Đinh Phạm Anh L số tiền 6.000.000

đồng, Tiêu Đình Th số tiền 340.000 đồng và Ngô Mai Phước L số tiền 10.000.000 đồng từ việc bán ma túy cần sa.

Đối với 01 điện thoại di động Iphone 13 Promax, màu xanh, số IMEI:

359978120375674, gắn sim số 0775.428.201, trên sim có dãy số 7364 của Ngô Mai Phước L; 01 điện thoại di động Iphone 11, màu đen, số IMEI 356929767839160, gắn sim số 0703.505.607, trên sim có dãy số 8618 của Tiêu Đình Th; 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax, màu xanh, số IMEI: 354245334296962 của Đinh Phạm Anh L dùng để sử dụng liên lạc mua bán ma túy nên tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

Trả lại sim số 0899.240.916 cho Đinh Phạm Anh L do không liên quan đến

hành vi phạm tội.

(Vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Sơn Trà

theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 26/4/2023 và giấy nộp tiền vào tài khoản số 39490105514200000 tại Kho bạc Nhà nước quận Sơn Trà ngày 07/12/2022).

Về vấn đề khác:

Đối với Nguyễn Trà V, Dương Minh Q có hành vi mua trái phép chất ma túy

cần sa của Đinh Phạm Anh L nhưng đã sử dụng một mình hết nên Cơ quan CSĐT Công an quận Sơn Trà không đề cập xử lý là phù hợp.

Đối với hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” của Đinh Phạm Anh L,

Tiêu Đình Th, Dương Minh Q và Nguyễn Trà V cơ quan CSĐT Công an quận Sơn Trà ra Quyết định xử phạt hành chính là phù hợp.

Đối với chị Phạm Hy H là mẹ ruột Đinh Phạm Anh L đăng ký chủ thuê bao

0792.581.044 rồi đưa cho L sử dụng. Chị H không biết việc L sử dụng số điện thoại trên để mua bán ma túy nên không đề cập xử lý.

Đối với ông Tiêu Đình H là bố ruột Tiêu Đình Th đăng ký chủ thuê bao

0703.505.607 rồi đưa cho Th sử dụng. Ông H không biết việc Th sử dụng số điện thoại trên để mua bán ma túy nên không đề cập xử lý.

Đối với các đối tượng bán ma túy cần sa cho Đinh Phạm Anh L và các đối

tượng mua ma túy cần sa của Đinh Phạm Anh L: Hiện chưa xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan CSĐT Công an quận Sơn Trà tiếp tục tách ra, điều tra, xử lý sau là phù hợp

Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

I. Tuyên bố: Các bị cáo Đinh Phạm Anh L, Ngô Mai Phước L và Tiêu Đình

Th phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

1. Căn cứ điểm b khoản 2 khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều

51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Đinh Phạm Anh L 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt

tù được tính từ ngày bị bắt tạm giam, ngày 25/11/2022.

Hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Đinh Phạm Anh L số tiền 20.000.000 đồng.

2. Căn cứ điểm b khoản 2 khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều

38; Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Tiêu Đình Th 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành

hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giam, ngày 25/11/2022.

Hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Tiêu Đình Th số tiền 10.000.000 đồng.

3. Căn cứ điểm b khoản 2 khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều

51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Ngô Mai Phước L 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp

hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giam, ngày 25/11/2022.

Hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Ngô Mai Phước L số tiền 10.000.000 đồng.

II. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ

luật tố tụng hình sự. Tuyên:

Tịch thu tiêu hủy 01 hộp giấy niêm phong, đựng mẫu hoàn trả theo Kết luận

giám định số 221/GĐ-MT ngày 28/10/2022, có đóng dấu Phòng Kỹ thuật hình sự - CATP Đà Nẵng, chữ ký giám định viên.

Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 750.000 đồng của Ngô Mai Phước

L.

Trả lại cho Ngô Mai Phước L số tiền 5.550.000 đồng. Tuy nhiên cần tiếp tục

quy trữ số tiền 5.550.000 đồng để đảm bảo cho việc thi hành án.

Truy thu, nộp ngân sách Nhà nước Đinh Phạm Anh L số tiền 6.000.000

đồng, Tiêu Đình Th số tiền 340.000 đồng và Ngô Mai Phước L số tiền 10.000.000 đồng từ việc bán ma túy cần sa.

Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone 13 Promax,

màu xanh, số IMEI: 359978120375674, gắn sim số 0775.428.201, trên sim có dãy số 7364 của Ngô Mai Phước L; 01 điện thoại di động Iphone 11, màu đen, số IMEI 356929767839160, gắn sim số 0703.505.607, trên sim có dãy số 8618 của Tiêu Đình Th; 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax, màu xanh, số IMEI: 354245334296962 của Đinh Phạm Anh L.

Trả lại sim số 0899.240.916 cho Đinh Phạm Anh L.

(Vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Sơn Trà

theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 26/4/2023 và giấy nộp tiền vào tài khoản số 39490105514200000 tại Kho bạc Nhà nước quận Sơn Trà ngày 07/12/2022)

III. Về án phí: Căn cứ các điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết

số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

IV. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự

Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có

quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật

Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ