- Tranh chấp gì? án hình sự — "BA - Lò Văn C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố Bị cáo Lò Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 46/2023/HS-ST Ngày 07/4/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO - TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lương Thị Nga.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Mạnh Thắng và bà Bạc Thị Hồng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Phương Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo tham gia phiên toà: Ông Phạm Minh Hưng, Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 43/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 3 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2023/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn C; tên gọi khác: Không; sinh ngày 01/01/1979; tại xã C, huyện T, tỉnh Điện Biên; giới tính: Nam; nơi cư trú: Bản N, xã C, huyện T, tỉnh Điện Biên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ học vấn: Lớp 1/12; con ông Lò Văn T, sinh năm 1929; con bà Lò Thị O, sinh năm 1930; vợ bị cáo là Lò Thị S, sinh năm 1981 và có 02 người con, con lớn nhất sinh năm 1998, con nhỏ nhất sinh năm 2004; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Bị cáo chưa bị Tòa án các cấp xét xử, bị cáo bị xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc với thời gian 24 tháng theo Quyết định số 19/2018/QĐ-TA ngày 09/7/2018 của Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, năm 2020 chấp hành xong về địa phương sinh sống; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/12/2022 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Tuần Giáo; bị cáo được trích xuất áp giải và có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 30/12/2022, bị cáo C đi bộ một mình từ nhà đến bản X, xã B, huyện M, tỉnh Điện Biên mục đích để tìm mua ma túy sử dụng. Khi đến bản Xuân Tre, xã Búng Lao, huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên thì gặp một người đàn ông dân tộc Thái, khoảng 55 tuổi, C không biết lai lịch, nhìn giống như người nghiện chất ma túy. C đã hỏi người đàn ông đó “Anh có viên hồng bán không?”, người đàn ông đó trả lời “Có mua bao nhiêu tiền”, C trả lời “Em mua một trăm nghìn đồng”. Sau khi trao đổi, C đã lấy tờ tiền mệnh giá 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) đưa cho người đàn ông đó. Người đàn ông đó cầm tiền và lấy từ trong túi quần đang mặc ra 03 viên hồng phiến đưa cho C. Bị cáo đã cầm lấy và cho 03 viên ma túy đó cất giấu vào găng tay vải, màu đen, viền găng tay màu đỏ rồi cho vào túi quần bên phải đang mặc và đi về nhà. Việc trao đổi mua bán chỉ có bị cáo và người đàn ông đó ngoài ra không có ai biết và tham gia cùng. Khi trao đổi mua bán không cân xác định khối lượng ma túy. Đến khoảng 10 giờ 30 phút ngày 31/12/2022, C đang đi bộ trong bản Nôm, xã Chiềng Đông thì gặp tổ công tác Công an huyện Tuần Giáo đang làm nhiệm vụ. Khi thấy tổ công tác do sợ bị phát hiện, C đã lấy găng tay màu đen trong túi quần đang mặc đựng 03 viên ma túy tổng hợp thả xuống đất. Qua kiểm tra tổ công tác đã phát hiện trong gang tay C vừa ném có 03 viên nén màu hồng trên một mặt mỗi viên nén đều có ký hiệu “WY”. Khi bị phát hiện thu giữ, C đã khai đó là 03 viên ma túy tổng hợp C mua nhằm mục đích sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản thu giữ vật chứng và đưa Lò Văn C cùng vật chứng về Cơ quan điều tra để điều tra, làm rõ.
Tại Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng ngày 31/12/2022, có sự chứng kiến của bị cáo đã xác định như sau: 03 viên nén màu hồng, nghi ma túy tỏng hợp có khối lượng là 0,34 gam, lấy toàn bộ gửi giám định. Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra Quyết định trưng cầu giám định số: 02/QĐ-ĐCSHS-KTMT, ngày 01/01/2023. Tại bản Kết luận giám định số: 134/KL-KTHS ngày 09/01/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận: Mẫu các viên nén màu hồng thu giữ của Lò Văn C gửi giám định là chất Ma túy: Loại Methamphetamine. Hoàn lại đối tượng giám định 0,31 gam.
Tại Cáo trạng số: 29/CT-VKS-TG ngày 08 tháng 3 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên; đã truy tố bị cáo về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tại phiên tòa Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 1, điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS tuyên tịch thu vật chứng hoàn lại của vụ Lò Văn C, có khối lượng 0,31 gam Methamphetamine, 01 găng tay vải màu đen, viền cổ găng tay màu đỏ, 01 vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng thu giữ của Lò Văn C để tiêu hủy. Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, thuộc hộ gia đình nghèo theo quy định của Chính phủ nên đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xem xét miễn hình phạt bổ sung và án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình tranh tụng công khai tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi của mình phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như Biên bản bắt người phạm tội quả tang (BL 01-02), Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ (BL03), Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng (BL66), Kết luận giám định (BL69); Biên bản lấy lời khai (BL40-41); Biên bản hỏi cung bị can (BL53-56) và các chứng cứ khác; do đó có đủ cơ sở kết luận: Ngày 31/12/2022, bị cáo bị bắt quả tang khi đang có hành vi cất giấu trên người của bị cáo 0,34 gam Methamphetamine. Nguồn gốc Methamphetamine bị cáo mua của một người đàn ông không rõ lai lịch, với giá 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng) với mục đích sử dụng. Hành vi, mục đích và khối lượng ma túy thu giữ của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo truy tố và Kiểm sát viên luận tội là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm những quy định của Nhà nước trong việc quản lý, sử dụng các chất ma túy; hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, gây mất trật tự trị an tại địa phương và làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự ổn định, phát triển của xã hội. Vì vậy, cần xử lý nghiêm minh nhằm răn đe và phòng ngừa chung.
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có bố đẻ là ông Lò Văn T được Nhà nước tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất; vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 249 BLHS quy định; bị cáo còn có thể bị phạt bổ sung bằng tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên, xét điều kiện hoàn cảnh của bị cáo không có khả năng thi hành; nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và tuyên mức hình phạt đối với bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù; Hội đồng xét xử xét thấy về đề nghị mức hình phạt là phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi, tình tiết giảm nhẹ của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với người đàn ông không rõ lai lịch bị cáo khai đã bán ma túy cho bị cáo, nhưng khi mua bị cáo không hỏi tên tuổi địa chỉ ở đâu nên không có cơ sở xác minh làm rõ, do đó tại vụ án này HĐXX không xem xét.
Về vật chứng: Hội đồng xét xử thấy rằng cần căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS và khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS để xử lý vật chứng như sau: Đối với vật chứng hoàn lại của vụ Lò Văn C, có khối lượng 0,31 gam Methamphetamine, do đây là chất Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy; 01 găng tay vải màu đen, viền cổ găng tay màu đỏ và 01 vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng thu giữ của Lò Văn C do không còn giá trị sử dụng vì vậy tịch thu để tiêu hủy.
Về án phí: Cần căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; xét thấy bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, gia đình thuộc hộ nghèo theo quy định của chính phủ và bị cáo có đơn xin miễn án phí vì vậy bị cáo đủ điều kiện được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thấy rằng: Không có ý kiến khiếu nại các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng theo quy định của Pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự:
1. Về tội danh: Tuyên bố Bị cáo Lò Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Lò Văn C 01 (Một) năm 02 (Hai) tháng tù; thời gian thi hành án phạt tù tính từ ngày 31/12/2022.
3. Vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS và khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên tịch thu để tiêu hủy 01 phong bì niêm phong màu trắng, các mép đều được dán kín, mặt trước phong bì có ghi vật chứng còn lại vụ Lò Văn C có khối lượng 0,31 gam Methamphetamine, 01 găng tay vải màu đen, viền cổ găng tay màu đỏ, 01 vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng thu giữ của Lò Văn C (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/3/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tuần Giáo và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuần Giáo).
4. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án bị cáo Lò Văn C được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 332; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 07/4/2023).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Điện Biên; - VKSND tỉnh Điện Biên; - Phòng HC, Sở tư pháp tỉnh Điện Biên; - Bộ phận HSNV, Công an huyện Tuần Giáo; - VKSND huyện Tuần Giáo; - Chi cục THADS huyện Tuần Giáo; - Bị cáo; - Lưu. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Bạc Thị Hồng Trần Mạnh Thắng | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Lương Thị Nga HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM HẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Thị Nga |