vanban.org

Bản án 46/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình Tuyên án 26/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 23/02/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 0,0866 gam mẫu vật hoàn lại sau giám định cùng bao gói trong phong bì hoàn trả… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn D TTTPCMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T1
TỈNH T2

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2023/HS-ST
Ngày 23/6/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T1, TỈNH T2

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đồng Ngọc Huyền.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông: Trần Văn Hiểu.

Ông: Phạm Mã Siêu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Phương Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân huyện T1, tỉnh T2.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T1, tỉnh T2 tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Nhất - Kiểm sát viên.

Trong ngày 23 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T1 xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 37/2023/TLST-HS ngày 24/5/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2023/QĐXXST-HS ngày 09/6/2023, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 06/02/1975, tại huyện T1, tỉnh T2; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ x, khu y, phường C, thành phố CP, tỉnh Q. Chỗ ở: Thôn LTN, xã TN, huyện T1, tỉnh T2; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ và bà Tô Thị L (đã chết); bị cáo có vợ là Trần Thị Đ và có 03 con, lớn sinh năm 1997, nhỏ sinh năm 2008; tiền sự: Không; tiền án: Không; nhân thân: Quyết định số 2870 ngày 07/12/2012 của Uỷ ban nhân dân tỉnh T2 đưa Nguyễn Văn Đ vào cơ sở giáo dục bắt buộc Thanh Hà, Cục 10 Bộ công an thời hạn chấp hành 24 tháng. Ngày 09/11/2014, Đ chấp hành xong; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/02/2023 đến ngày 01/3/2023 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Kiến Xương, tỉnh T2; bị cáo trích xuất, có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

Ông Hoàng Minh D, sinh năm 1962 và ông Hoàng Văn Th, sinh năm 1957, đều trú tại thôn Th, xã TL, đều thuộc huyện T1, tỉnh T2 (đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 10 giờ ngày 23/02/2023, tại khu vực miếu thờ gần gia đình bà Ngô Thị Nhuấn, sinh năm 1949, thuộc địa phận thôn LP, xã TL, huyện T1, tỉnh T2. Công an huyện T1 phát hiện bắt quả tang Nguyễn Văn Đ có hành vi tàng trữ 02 gói ma túy loại Methamphetamine và Heroin có khối lượng là 0,1375 gam mục đích để sử dụng cho bản thân.

Quá trình điều tra, Nguyễn Văn Đ khai: Do có nhu cầu sử dụng ma túy, khoảng 09 giờ 30 phút ngày 23/02/2023 sau khi uống thuốc điều trị ma túy Methadone tại Trung tâm y tế huyện T1, Nguyễn Văn Đ ra đường sau đó xin đi nhờ xe của một người không quen biết đến khu vực cầu TL, xã TL, huyện T1, tỉnh T2 mục đích tìm mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Tại đây Đ gặp một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ, nghi ngờ người này có ma túy bán, Đ hỏi mua 200.000 đồng tiền ma túy, người này nhận tiền và đưa cho Đ 02 gói bên ngoài được gói bằng giấy tráng kim màu trắng. Biết đây là ma túy, Đ nhận và cất vào trong túi áo khoác ngoài bên phải đang mặc rồi đi về. Khi Đ đi đến khu vực miếu thờ gần gia đình bà Ngô Thị Nh thuộc địa phận thôn LP, xã TL, huyện T1, tỉnh T2 thì bị tổ công tác Công an huyện T1 phát hiện, bắt quả tang. Đ đã tự giác lấy trong túi áo khoác ngoài bên phải đang mặc ra 02 gói khai nhận đó là ma túy mua về với mục đích để sử dụng cho bản thân giao nộp cho lực lượng Công an. Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn Đ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T1 không phát hiện, thu giữ gì.

Lời khai của những người làm chứng:

Ông Hoàng Minh D và ông Hoàng Văn Th trình bày: Vào khoảng 09 giờ 45 phút ngày 23/02/2023, các ông được chứng kiến Công an đang làm việc với người đàn ông vì nghi ngờ có liên quan đến ma túy. Qua giải thích, các ông nghe thấy người đàn ông khai tên là Nguyễn Văn Đ. Đ khai nhận đang tàng trữ trái phép chất ma túy trên người. Công an yêu cầu Đ và mời người làm chứng về trụ sở UBND xã TL để làm việc. Tại đây, ông D và ông Th chứng kiến Đ tự giác lấy ở túi áo khoác ngoài bên phải Đ đang mặc ra 02 gói được gói bằng giấy tráng kim màu trắng, mở kiểm tra bên trong đều chứa chất bột dạng cục màu trắng giao nộp cho Công an huyện T1 và khai nhận đây là ma túy của Đ mua để sử dụng cho bản thân.

Tại Bản Kết luận giám định số 251/KL- KTHS ngày 27/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T2 kết luận: Mẫu vật gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine và heroin (Heroine) có khối lượng 0,1375 gam.

Tại Cáo trạng số 41/CT-VKSTH ngày 23/5/2023, Viện Kiểm sát nhân dân huyện T1, tỉnh T2 quyết định truy tố Nguyễn Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa sơ thẩm vẫn giữ nguyên quan điểm như đã truy tố, căn cứ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47; Điều 50 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Khoản 2 Điều 106; Điều 135; Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015. Kiểm sát viên đề nghị: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo. Ngoài ra, vị đại diện Viện kiểm sát cũng đề nghị về xử lý vật chứng và án phí.

Bị cáo đồng ý với tội danh, hình phạt mà Viện kiểm sát truy tố, không tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T1, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Văn Đ đều khai nhận: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 23/02/2023 tại khu vực miếu thờ gần gia đình bà Ngô Thị Nh sinh năm 1949 thuộc địa phận thôn LP, xã TL, huyện T1, tỉnh T2; Công an huyện T1 phát hiện bắt quả tang Nguyễn Văn Đ có hành vi tàng trữ 02 gói ma túy loại Methamphetamine và Heroin có khối lượng là 0,1375 gam mục đích để sử dụng cho bản thân.

Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn Đ phù hợp và được chứng minh bằng: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Các biên bản tạm giữ, niêm phong đồ vật tài liệu; Bản kết luận giám định số 251/KL- KTHS ngày 27/02/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T2; Lời khai của những người làm chứng; Biên bản khám xét và những tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, bị cáo Nguyễn Văn Đ là người đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 02 gói ma túy loại Methamphetamine và Heroine có khối lượng 0,1375 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Viện Kiểm sát nhân dân huyện T1, tỉnh T2 quyết định truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Điều 249: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này.

5.Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Đánh giá tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng:

Bị cáo Nguyễn Văn Đ là người sử dụng ma túy, biết tác hại của ma túy đối với sức khỏe con người, đồng thời là nguyên nhân gây ra nhiều tệ nạn khác cho xã hội. Bị cáo đã từng bị áp dụng đưa vào cơ sở giáo dục nhưng không lấy đó làm bài học, vẫn sử dụng ma túy và tàng trữ ma túy mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã vi phạm chế độ quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an, hành vi này gây nguy hiểm cho xã hội nên phải xử lý. Cần áp dụng hình phạt tù giam đối với bị cáo để giáo dục bị cáo trở thành người lương thiện. Do bị cáo không có công ăn việc làm và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử thấy không cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Hội đồng xét xử cũng xét trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Đ đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có bố đẻ được tặng thưởng Huân chương kháng chiến, do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Trong vụ án này: Đối với người bán ma túy cho Đ, Đ khai mua của một người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ tại khu vực cầu TL, xã TL, huyện T1, tỉnh T2 với giá 200.000 đồng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T1 không đủ cơ sở điều tra xác minh, làm rõ người bán ma túy cho Đ để xử lý theo quy định của pháp luật.

Về vật chứng của vụ án: Đối với 0,0866 gam mẫu vật hoàn lại sau giám định cùng bao gói trong phong bì hoàn trả số 251/KL-KTHS ngày 27/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh T2 cần tịch thu tiêu hủy

Bị cáo Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47; Điều 50 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 23/02/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 0,0866 gam mẫu vật hoàn lại sau giám định cùng bao gói trong phong bì hoàn trả số 251/KL-KTHS ngày 27/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh T2.

(Toàn bộ vật chứng có đặc điểm mô tả chi tiết trong Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 24/5/2023 tại Chi cục thi hành án Dân sự huyện T1, tỉnh T2).

4. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn Đ có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án 23/6/2023./.

Cỡ chữ