- Tranh chấp gì? án hình sự — "Quàng Văn H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự: Tuyên bố bị cáo Quàng Văn H , phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH SƠN LA Bản án số: 46/2023/HS-ST Ngày: 21- 6- 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP, TỈNH SƠN LA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Dương Ngọc Tam.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Văn Dưỡng; Ông Lò Trung Thành.
- Thư ký phiên toà: Ông Sòi Ngọc An Sơn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp tham gia phiên toà: Ông Giàng A Mơ – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 46/2023/TLST- HS ngày 30 tháng 5 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/QĐXXST- HS ngày 09/6/2023 đối với bị cáo:
Quàng Văn H, tên gọi khác: Không, giới tính: Nam, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1989, tại huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản H , xã S , huyện S , tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đoàn, đảng: Không; con ông: Quàng Văn T (đã chết); con bà Tòng Thị S ; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không có; Nhân thân: Năm 2016 Tòa án nhân dân huyện Sốp Cộp xử tuyên miễn trách nhiệm hình sự về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy; năm 2021 bị phạt hành chính về hành vi đánh bạc; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/2/2023 cho đến nay, có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Lò Văn V, sinh năm 1981, trú tại bản N , xã M , huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La; có mặt.
NỘI DỤNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do H có hẹn trước với một người không quen biết tại quán ăn sáng của nhà H vào ngày 27/2/2023. Đến 19 giờ cùng ngày H điều khiển chiếc xe mô tô mượn của Lò Văn V đến khu Nghĩa trang Liệt sỹ của huyện Sốp Cộp. H đưa cho người thanh niên đã hẹn số tiền 200.000 đồng, nhận tiền xong người đó đưa cho Hồng 01 gói ni lon màu trắng, bên trong có 01 lớp ni lon màu hồng chứa nhiều viên H phiến, Mua được ma túy H cầm trên tay rồi điều khiển xe mô tô về nhà, trên dường về đến khu vực bản Sốp Cộp, xã Sốp Cộp thì bị Công an huyện Sốp Cộp kiểm tra phát hiện lập biên bản qủa tang về hành vi cất giấu trái phép chất ma túy, thu giữ 07 viên ma túy tồng hợp và 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA loại Sirius Rc.
Ngày 28/2/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sốp Cộp đã mở niêm phong, cân tịnh, lấy mẫu giám định, vật chứng là 07 viên ma túy tổng hợp, hình trụ tròn màu hồng có khối lượng là 0,68 gam, đã sử dụng hết làm mẫu gửi giám định, ký hiệu H.
Bản kết luận số 488/KL-KTHS ngày 01/3/2023 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu H là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng mẫu gửi giám định là 0,68 gam, tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,68 gam, loại Methamphetamine.
Bản Cáo trạng số 24/CT-VKSSC ngày 29 tháng 5 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, truy tố bị cáo Quàng Văn H về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo H thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã truy tố, không khai báo gì thêm.
Tranh luận tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp trình bày luận tội, giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự; Tuyên bố bị cáo Quàng Văn H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, đề nghị xử phạt bị cáo từ 16 đến 22 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự; Tuyên tịch thu để tiêu hủy: 01 phong bì thư đã được niêm phong kín, bên trong có 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở, 01 mảnh ni lon màu trắng đựng ban đầu, 01 mảnh ni lon màu hồng đựng ban đầu; trả cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS RC, màu sơn trắng - đen biển kiểm soát 26B2-006-18
Về nguồn gốc 0,68 gam ma túy loại Methamphetaminne bị cáo khai do mua của một người không quen biết, không rõ địa chỉ, nên không có căn cứ để xử lý người đã bán ma túy cho bị cáo.
Tại phiên tòa bị cáo Quàng Văn H nhất trí với nội dung Cáo trạng, với luận tội của Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan
2 không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Điều tra viên; Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Ngày 27/2/2023 bị cáo Hồng đã Tàng trữ 0,68 gam ma túy, loại Methamphetaminne, mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang hồi 19 giờ 10 phút ngày 27 tháng 2 năm 2023; Biên bản niêm phong, cân tịnh vật chứng ngày 28/2/2023, kết luận giám định số 488 ngày 01/3/2023, lời khai của người chứng kiến, vật chứng của vụ án là 0,68 gam ma túy, loại Methamphetaminne.
Từ các căn cứ nêu trên có đủ cơ sở kết luận bị cáo Quàng Văn H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự, như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ.
Xét về tính chất mức độ hành vi phạm tội:
Bị cáo Quàng Văn H đã Tàng trữ trái phép 0,68 gam ma túy loại Methamphetaminne là nghiêm trọng, bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện, hành vi đó đã gây nguy hiểm cho xã hội, vi phạm chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự an toàn xã hội tại địa phương, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội khác.
Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trước khi phạm tội bị cáo chưa có tiền án, tiền sự
Tình tiết tăng nặng: Không có
Tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan Điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải nên được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Xét luận tội của Viện kiểm sát huyện Sốp Cộp. Căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ; đề nghị hình phạt của Viện kiểm sát đối với bị cáo là phù hợp và cần phải phải cách ly bị cáo ra ngoài đời sống xã hội một thời gian nhất định, nhằm răn đe giáo dục bị cáo và để phòng ngừa chung.
Bị cáo Quàng Văn H đang bị tạm giam, Hội đồng xét xử xét thấy thời gian tạm giam còn dưới 45 ngày, cần ra quyết định tạm giam bị cáo trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án.
Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính lẽ ra bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự; Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có khả năng thi hành, nên không áp dụng.
Về xử lý vật chứng: 01 phong bì thư đã được niêm phong kín, bên trong có 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở, 01 mảnh ni lon màu trắng đựng ban đầu, 01 mảnh ni lon màu hồng đựng ban đầu là vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy; 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS RC, màu trắng - đen biển kiểm soát 26B2-00618 xác định là tài sản của
3 Lò Văn Vân, bị cáo mượn của ông Vân dùng vào việc Tàng trữ ma túy, ông Vân không biết, không có liên quan đến hành vi Tàng trữ ma túy của bị cáo, cần trả lại cho chủ sở hữu là ông Vân.
Về án phí: Bị cáo phạm tội phải chịu án phí; Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016; bị cáo H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự .
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự: Tuyên bố bị cáo Quàng Văn H , phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Quàng Văn H 16 (Mười sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (27/2/2023).
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự, điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu để tiêu hủy: 01 phong bì thư đã được niêm phong kín, bên trong có 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở, 01 mảnh ni lon màu trắng đựng ban đầu, 01 mảnh ni lon màu hồng đựng ban đầu.
- Trả cho Lò Văn Vân 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS RC, màu Sơn trắng - đen, biển kiểm soát 26B2-006.18, số máy: 1FC1056445, số khung: RLCS10DY056440, có chìa khóa xe kèm theo, xe đã cũ; Toàn bộ vật chứng của vụ án theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 30/5/2023 giữa Công an huyện và Chi cục thi hành án huyện Sốp Cộp, Sơn La.
4. Về án phí: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016 /UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội; quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bị cáo Quàng Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 21/6/2023.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND huyện Sốp Cộp; - Công an huyện Sốp Cộp; - Thi hành HS; - Trại giam Sơn La; - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La; - Thi HADS huyện Sốp Cộp; - Bị cáo; - Người có QLNVLQ; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Ngọc Tam 4 5 |