vanban.org

Bản án 46/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương Tuyên án 20/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trần Thị H, Lê Thị H2, Đồng Hữu L phạm tội “Đánh bạc”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Thị H 08 (T5) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thị H và đp - Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trần Thị H, Lê Thị H2, Đồng Hữu L phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ GIÁO
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2023/HS-ST
Ngày 20/6/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Khoa.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hoàng Quốc Hương;

Bà Lê Thị Phương Dung.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Phúc Vĩnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Ông Trịnh Đình Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 25/2023/TLST-HS ngày 27 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2023/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 5 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Trần Thị H, sinh ngày 01/02/1976 tại Bình Dương. Nơi cư trú: Ấp X, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ văn hóa (học vấn): 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không, quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Đ (đã chết) và bà Bùi Thị H1, sinh năm 1948; chồng là Nguyễn Văn T, sinh năm 1971, bị cáo có 07 người con, lớn nhất sinh năm 1994, nhỏ nhất sinh năm 2008; tiền án: 01 tiền án, ngày 04/8/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo xử phạt 20.000.000đ về tội đánh bạc, chưa được xóa án tích; tiền sự: 02 tiền sự. Ngày 15/4/2021, bị Công an xã T xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc trái phép với số tiền 1.500.000đ, bị cáo đã chấp hành xong vào ngày 11/01/2022. Ngày 15/4/2021 bị cáo bị Ủy ban nhân dân huyện P xử phạt hành chính về hành vi dùng nhà, chỗ ở của mình hoặc phương tiện, địa điểm khác để chứa bạc với số tiền 7.500.000đ (ngày 11/01/2022 đã chấp hành xong). Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 17/01/2023. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Lê Thị H2, sinh ngày 22/10/1975 tại Thanh Hóa. Nơi cư trú: Ấp E, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ văn hóa (học vấn): 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không, quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Xuân C (đã chết) và bà Nguyễn Thị T1 (đã chết), bị cáo có chồng là Trịnh Đức T2, bị cáo có 03 người con, lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 2005; tiền án: 01 tiền án, ngày 03/3/2020 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước xử phạt 06 tháng tù về tội đánh bạc, chấp hành xong ngày 26/12/2021 (chưa được xóa án tích). Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 17/01/2023. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

3. Họ và tên: Đồng Hữu L, sinh ngày 15/3/2070 tại Bình Dương. Nơi cư trú: Ấp X, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không, quốc tịch: Việt Nam; con ông Đồng Văn L1 (đã chết) và bà Trần Thị C1, sinh năm 1935, bị cáo có vợ là Nguyễn Thị G, bị cáo có 03 người con, lớn nhất sinh năm 1990, nhỏ nhất sinh năm 1995; tiền án: 01 tiền án, ngày 04/8/2022 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xử phạt 25.000.000đ về tội đánh bạc, chưa được xóa án tích; về nhân thân: Ngày 17/5/2021 bị cáo bị Công an huyện P xử phạt 1.500.000đ về hành vi đánh bạc (ngày 21/6/2021 chấp hành xong). Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 17/01/2023. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1979. Nơi cư trú: Ấp E, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 09/11/2022 Lê Thị H2 và Nguyễn Thị T3 đi đến ấp X, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương để lấy hạt điều và gặp Trần Thị H đang đi bộ. Tại đây, T3 rủ H, H2 đánh bạc thắng thua bằng tiền thì được H, H2 đồng ý. Sau đó, H đi vào nhà lấy 01 bộ bài tây loại 52 lá đã qua sử dụng và cùng với H2, T3 tham gia đánh bạc thắng thua bằng tiền với hình thức chơi bài tiến lên với tỷ lệ thắng thua như sau: Sử dụng bộ bài 52 lá chia ra làm 04 tụ, mỗi tụ có 13 lá bài, có 03 người trực tiếp tham gia đánh bạc nên mỗi người 01 tụ, tụ còn dư thì bỏ, sau khi chia bài xong 03 tụ cầm bài lên để đánh xoay vòng cho đến khi người nào hết 13 lá trước thì thắng, người về thứ ba phải trả cho người về thứ nhất 10.000đ, người về thứ hai phải trả cho người về thứ nhất 5.000đ. Trong lúc H2, H, T3 đang đánh bạc thì Đồng Hữu L đến nhà của H chơi, thấy vậy T3 rủ L hùn tiền với T3 để chơi chung 01 tụ bài và được L đồng ý. L và bà T3 mỗi người bỏ ra 50.000đ hùn lại với nhau và tham gia đánh bạc với tỷ lệ thắng, thua như trên, L tham gia đánh 01 ván bài và thua 10.000đ nên L đi về nhà. Khoảng 30 phút sau, L đến nhà H để xem Tiếp đánh bạc thắng hay thua thì bị lực lượng Công an xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương bắt quả tang H và L, lúc này H2 và T3 bỏ chạy và vứt bài trong lúc chạy trốn nhưng bị Công an đuổi theo bắt giữ và mời về trụ sở Công an để làm việc. Tang vật thu giữ gồm: 10 lá bài đã qua sử dụng.

Qua điều tra xác định:

- Lê Thị H2 mang theo số tiền 240.000đ sử dụng vào mục đích đánh bạc;

- Trần Thị H mang theo số tiền 60.000đ sử dụng vào mục đích đánh bạc;

- Nguyễn Thị T3 mang theo số tiền 50.000đ sử dụng vào mục đích đánh bạc;

- Đồng Hữu L mang theo số tiền 50.000đ sử dụng vào mục đích đánh bạc;

Tổng sổ tiền các bị cáo cùng với Nguyễn Thị T3 sử dụng vào mục đích đánh bạc là 400.000đ.

Tại Cáo trạng số 32/CT-VKSPG ngày 27/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo Trần Thị H, Lê Thị H2, Đồng Hữu L về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Trần Thị H, Lê Thị H2, Đồng Hữu L phạm tội “Đánh bạc”, và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Thị H từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù; xử phạt bị cáo Lê Thị H2 từ 07 tháng tù đến 08 tháng tù; xử phạt bị cáo Đồng Hữu L từ 06 tháng tù đến 08 tháng tù.

Đồng thời đề nghị Hội đồng xét áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 400.000đ; tịch thu tiêu hủy 10 lá bài tây đã qua sử dụng.

Phần tranh luận, các bị cáo không tranh luận gì về tội danh và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo rất ăn năn, hối hận về hành vi của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hội đồng xét xử xét thấy các quyết định, hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là phù hợp quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 09/11/2022, bị cáo Trần Thị H, Lê Thị H2, Đồng Hữu L, cùng với Nguyễn Thị T3 đã có hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức đánh bài “T4 lên” tại nhà của bị cáo Trần Thị H tại ấp X, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương với tổng số tiền là 400.000đ. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Về nhận thức, các bị cáo biết hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền là vi phạm pháp luật, xâm phạm đến trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo Trần Thị H có 02 tiền sự; ngày 15/4/2021, bị Công an xã T xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc trái phép với số tiền 1.500.000đ; ngày 15/4/2021 bị Ủy ban nhân dân huyện P xử phạt hành chính về hành vi dùng nhà, chỗ ở của mình hoặc phương tiện, địa điểm khác để chứa bạc với số tiền 7.500.000đ, bị cáo có 01 tiền án về tội đánh bạc; ngày 04/8/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xử phạt 20.000.000đ về tội đánh bạc, chưa được xóa án tích. Bị cáo Lê Thị H2 có 01 tiền án; ngày 03/3/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước xử phạt 06 tháng tù về tội đánh bạc, chấp hành án xong ngày 26/12/2021, chưa được xóa án tích. Bị cáo Đồng Hữu L có 01 tiền án; ngày 04/8/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xử phạt 25.000.000đ về tội đánh bạc, chưa được xóa án tích. Do đó, hành vi của các bị cáo Trần Thị H, Lê Thị H2, Đồng Hữu L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự đúng như nội dung cáo trạng đã truy tố.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với các bị cáo:

Hành vi đánh bạc là một tệ nạn xã hội, xâm phạm đến trật tự nếp sống văn minh của xã hội. Bản thân bị cáo Trần Thị H, Lê Thị H2 là phụ nữ, là người lớn tuổi, lẽ ra phải làm gương cho con cháu noi theo, bị cáo Đồng Hữu L là người có sức khỏe không lo tu chí làm ăn mà lại dấn thân vào con đường phạm tội, sát phạt thắng thua bằng tiền, các bị cáo đã có tiền án, tiền sự. Để góp phần ổn định tình hình an ninh trật tự, giữ gìn nếp sống văn minh của địa phương, Hội đồng xét xử xem xét quyết định áp dụng một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo đồng thời nêu gương phòng ngừa chung cho xã hội.

Hội đồng xét xử cần phân hóa vai trò của các bị cáo trong vụ án: Bị cáo H đóng vai trò là người thực hành tích cực, bị cáo sử dụng nhà, nơi ở của bị cáo dùng để đánh bạc, các bị cáo H2, L đóng vai trò là người thực hành.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo như sau:

+ Tình tiết tăng nặng: Không.

+ Tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xét thấy các bị cáo đã có tiền án, tiền sự, đã bị xét xử nhưng không biết ăn năn, hối cải, xét thấy cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi môi trường xã hội mội thời gian mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục đối với các bị cáo.

Phần luận tội và đề nghị mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát đối với các bị cáo H2, L là phù hợp với hành vi, tính chất, tình tiết của vụ án và có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Đối với bị cáo H Hội đồng xét xử xem xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo.

Đối với Nguyễn Thị T3 có tham gia đánh bạc cùng với bị cáo H, H2, L, số tiền bà T3 dùng vào việc đánh bạc chưa đủ yếu tố cấu thành tội đánh bạc, bà T3 đã bị Công an huyện P ra Quyết định số 09/QĐ-XPVPHC ngày 10/3/2023 xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000đ nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với số tiền 400.000đ thu giữ của các bị cáo và bà Nguyễn Thị T3 là tiền dùng vào việc phạm tội, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước;

- Đối với 10 lá bài tây đã qua sử dụng là công cụ dùng vào việc phạm tội, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; Điều 47, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, các Điều 106, 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trần Thị H, Lê Thị H2, Đồng Hữu L phạm tội “Đánh bạc”.

2. Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Trần Thị H 08 (T5) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

Xử phạt bị cáo Lê Thị H2 07 (B) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

Xử phạt bị cáo Đồng Hữu L 06 (Sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

3. Về vật chứng của vụ án:

+ Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 400.000đ (Bốn trăm nghìn đồng).

+ Tịch thu, tiêu hủy 10 lá bài tây đã qua sử dụng;

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/3/2023 giữa Công an huyện P với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo và Lệnh thanh toán ngày 27/3/2023 của Công an huyện P).

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo Trần Thị H, Lê Thị H2, Đồng Hữu L2, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ