vanban.org

Bản án 46/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 23/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Hoàng Văn Á, Chu Văn B phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hoàng Văn Á 13 (mười ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/02/2023. Xử phạt bị cáo Chu Văn B 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/02/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Hoàng Văn Á, Chu Văn B phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HỮU LŨNG
’
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2023/HS-ST
Ngày 23-6-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁNNHÂN DÂN HUYỆN HỮU LŨNG, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thảo Nguyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Minh Đức.

Ông Lê Xuân Nghiêm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đạt, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Mã Anh Tuấn- Kiểm sát viên.

Trong ngày 23 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 45/2023/TLST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2023/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2023, đối với các bị cáo:

1. Hoàng Văn Á (tên gọi khác: Không có), sinh ngày 20 tháng 7 năm 2001 tại huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn.

Nơi cư trú: Thôn TD, xã HS, huyện HL, tỉnh LS; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 09/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn P, sinh năm 1979 và bà Triệu Thị H, sinh năm 1979; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Ngày 13/7/2020, Công an huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn ra Quyết định xủa phạt vi phạm hành chính số 147/QĐ-XPHC, xử phạt 1.500.000 đồng vì có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Đã chấp hành xong ngày 27/7/2020; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24 tháng 02 năm 2023 đến nay. Có mặt.

2. Chu Văn B (tên gọi khác: Không có), sinh ngày 05 tháng 01 năm 1996 tại huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn.

Nơi cư trú: Thôn G, xã T, huyện HL, tỉnh LS; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 09/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Chu Tuấn M, sinh năm 1971 (đã chết) và bà Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1971; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không có; tiền sự: Ngày 13/5/2021, Ủy ban nhân dân xã Tân Thành, huyện Hữu Lũng ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã số 58/QĐ-UBND thời hạn 03 tháng do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Đã chấp hành xong ngày 13/8/2021; nhân thân: Bị cáo có nhân thân không tốt; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24 tháng 02 năm 2023 đến nay. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hoàng Văn Á và Chu Văn B là người sử dụng trái phép chất ma túy nên hay đi mua ma túy về sử dụng. Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 24/02/2023, Hoàng Văn Á có nhu cầu sử dụng chất ma túy nhưng không có phương tiện đi mua nên rủ Chu Văn B đến đón đi mua ma túy về sử dụng, Ba đồng ý rồi đi xe mô tô biển kiểm soát 12H1-467.21 đến thôn Trại Dạ, xã Hòa Sơn, huyện Hữu Lũng đón Á. Đến nơi Á đề nghị mỗi người góp 100.000 đồng để mua ma túy, Ba đồng ý đưa cho Á 100.000 đồng rồi điều khiển xe mô tô chở Á đến xã Kiên Lao, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang để mua ma túy. Khi đi đến địa phận thôn Cấm Vải, xã Kiên Lao, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang, thấy một người đàn ông không biết nhân thân lai lịch đang đi bộ ven đường, Á bảo Ba dừng xe đợi, còn Á đến gặp người này mua 200.000 đồng được 02 gói ma túy. Sau khi mua được ma túy Ba lại điều khiển xe chở Á về, trên đường về Á cho 02 gói ma túy vào túi áo khoác bên trái Ba đang mặc, Ba biết nhưng không nói gì. Hồi 11 giờ 50 phút cùng ngày khi về đến Thôn TD, xã HS, huyện HL, tỉnh LS thì bị Công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ: Trong túi áo khoác bên trái Chu Văn B đang mặc 02 gói giấy bạc trong đó 01 gói màu vàng kích thước 01cm x 1,5cm, 01 gói màu bạc kích thước 0,7cm x 1,5cm bên trong đều đựng chất cục bột màu trắng; 01 chiếc xi lanh đã qua sử dụng; trong túi quần Chu Văn B 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO lắp sim có số thuê bao 0372.949.961; trong túi quần Hoàng Văn Á 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA lắp sim có số thuê bao 0337.383.326 đều đã qua sử dụng; 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave biển kiểm soát 12H1-467.21.

Tại bản kết luận giám định số: 302/KL-KTHS ngày 27/02/2023 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Chất cục bột màu trắng trong 02 gói giấy bạc thu giữ trong túi áo Chu Văn B gửi giám định là chất ma túy Heroin có tổng khối lượng 0,105 gam;

Tại phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy ngày 24/02/2023, cho kết quả Hoàng Văn Á và Chu Văn B dương tính với chất ma túy Heroin.

Tại bản Cáo trạng số 46/CT-VKS ngày 31 tháng 5 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố các bị cáo Hoàng Văn Á, Chu Văn B về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Hoàng Văn Á, Chu Văn B phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Hoàng Văn Á; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Chu Văn B. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn Á, Chu Văn B từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng các điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đề nghị tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy đã thu giữ và 01 chiếc xi lanh đã qua sử dụng của Chu Văn B; tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Oppo màu đỏ của bị cáo Chu Văn B và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen của bị cáo Hoàng Văn Á, bên trong đều có gắn sim.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, trong lời nói sau cùng các bị cáo đã nhận thấy lỗi lầm của bản thân và xin được giảm nhẹ hình phạt để có cơ hội được trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa không có ai có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thực hiện đều hợp pháp.

Về trách nhiệm hình sự: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, với biên bản phạm tội quả tang; phù hợp với Kết luận giám định và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Các bị cáo Hoàng Văn Á, Chu Văn B là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 24/02/2023 các bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,105 gam ma túy Heroin. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, do vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi của các bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Đây là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm và tệ nạn khác, ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Các bị cáo đều là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, hoàn toàn nhận thức được hành vi của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Trong vụ án có 02 bị cáo, hành vi phạm tội có liên quan đến nhau, các bị cáo cùng nhau góp tiền mua ma túy về sử dụng. Bị cáo Hoàng Văn Á là người khởi xướng và là người trực tiếp đi mua ma túy; bị cáo Chu Văn B là người điều khiển xe mô tô trở bị cáo Hoàng Văn Á mua ma túy nên phải chịu trách nhiệm hình sự với tổng khối lượng ma túy mà hai bị cáo đã tàng trữ.

về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Hoàng Văn Á, không có tiền án tiền sự nhưng đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo Chu Văn B không có tiền án nhưng đã từng bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường tuy đã chấp hành xong nhưng chưa hết thời gian được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính nên xác định các bị cáo đều có nhân thân không tốt. Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Hoàng Văn Á là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng kinh tế khó khăn nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Trên cơ sở tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa thể hiện các bị cáo đều là lao động tự do, không có tài sản riêng có giá trị. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đối với chất ma túy là mẫu vật hoàn lại sau giám định đựng trong 01 phong bì niêm phong là vật cấm tàng trữ, lưu hành và 01 chiếc xi lanh của bị cáo Chu Văn B đã qua sử dụng là vật không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy; đối với 01 điện thoại di động Oppo màu đỏ của bị cáo Chu Văn B và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen của bị cáo Hoàng Văn Á, bên trong đều có gắm sim, các bị cáo sử dụng để liên lạc rủ nhau đi mua ma túy nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước;

Về đối tượng liên quan đến việc mua bán trái phép chất ma túy: Bị cáo Hoàng Văn Á khai nguồn gốc số ma túy là mua của một người đàn ông đi bộ ở thôn Cấm Vải, xã Kiên Lao, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang. Tuy nhiên, bị cáo không cung cấp được thông tin cụ thể về nhân thân, lai lịch, địa chỉ của đối tượng bán ma túy cho bị cáo. Do đó, không có căn cứ để điều tra, xác minh và xử lý đối tượng nói trên trong vụ án này.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 12H1-467.21 là của bà Nguyễn Thị Nga là mẹ đẻ Chu Văn B, việc Chu Văn B sử dụng đi mua ma túy bà Nga không biết nên không đặt vấn đề xử lý. Ngày 04/4/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hữu Lũng đã trả lại chiếc xe cho bà Nguyễn Thị Nga là đúng quy định.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội đã xảy ra, đúng với các quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng sung công quỹ nhà nước, theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Các bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn luật định theo quy định tại Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Hoàng Văn Á.

Căn cứ điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Chu Văn B.

Căn cứ Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1. về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Hoàng Văn Á, Chu Văn B phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

2. về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hoàng Văn Á 13 (mười ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/02/2023.

Xử phạt bị cáo Chu Văn B 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/02/2023.

3. về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thư dán kín, trong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định, bên ngoài có chữ ký cùng tên của các thành phần tham gia niêm phong, của giám định viên, cán bộ giám định và hình dấu tròn đỏ của Công an xã Hòa Sơn và Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn tại nơi giáp lai mới; 01 chiếc xi lanh bằng nhựa màu trắng.

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đỏ và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen đều đã qua sử dụng, bên trong có gắn sim.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Hữu Lũng và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hữu Lũng ngày 02/6/2023).

4. Về án phí: Buộc bị cáo Hoàng Văn Á và Chu Văn B mỗi người phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ