vanban.org

Bản án 46/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương Tuyên án 21/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố b cáo Lê Văn T phạm tội tàng tr trái phép chất ma tuý .

Xử phạt b cáo Lê Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Th i gian chấp hành hình phạt tù tính t ngày 16/3/2023. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố b cáo Lê Văn T phạm tội tàng tr trái phép chất ma tuý .
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DẦU TIẾNG
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:46/2023/HS-ST
Ngày: 21-8-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Ngọc Tuyền.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguy n Th Thu Thu;

2. Ông Tr ng H u Bình.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguy n Th Thảo- Th ký Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình D ng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông V Thế Du n - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình D ng, xét xử s th m công khai vụ án hình sự thụ lý số: 40/2023/TLST-HS ngày 11 tháng 7 năm 2023 theo Quyết đ nh đ a vụ án ra xét xử số: 43/2023/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2023, đối với b cáo:

Họ và tên: Lê Văn T, sinh năm 1985, tại tỉnh Bình D ng; n i c trú: p H1, xã L, huyện D, tỉnh Bình D ng; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc t ch: Việt Nam; con ông Lê Văn T1, sinh năm 1962 (đã chết) và bà Nguy n Th H2, sinh năm 1966; b cáo có vợ tên Nguy n Th T2, sinh năm 1989; có 02 ng i con, lớn sinh năm 2007, nh sinh năm 2008; tiền án: Ngày 21/9/2020 Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình D ng tuyên phạt 01 năm tù, nh ng cho h ởng án treo, th i gian thử thách là 02 năm về tội á bạc theo Bản án số 67/2020/HSST. Tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 04/10/2021, Công an xã L ra Quyết đ nh số 190/QĐ-XPHC về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, bằng hình thức phạt tiền, số tiền 750.000 đồng (đã đóng phạt vào ngày 05/10/2021). B cáo b tạm gi , tạm giam t ngày 16/3/2023 cho đến nay. Có mặt.

- Ng i c qu n l i ngh a v liên quan n v án: Bà Lê Th Kim Cúc, sinh năm 1983. HKTT: Số 1147, N, t 3, ph ng K, th xã Y, tỉnh Th a Thiên Huế. Xin v ng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ s vụ án và di n biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đ ợc tóm t t nh sau:

Vào lúc 17 gi 30 phút, ngày 16/3/2023, Công an xã Đ trong quá trình tuần tra đảm bảo An toàn giao thông trên đ a bàn xã, khi tới đoạn đ ng ĐT 750 thuộc ấp D1, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình D ng phát hiện Lê Văn T có biểu hiện nghi vấn nên đã d ng xe kiểm tra. Qua kiểm tra, Công an xã Đ phát hiện bên trong bao thuốc lá màu tr ng có in ch BÀU BÀN mà Lê Văn T b trong túi quần bên phải có 01 gói nylon hàn kín một đầu, chứa tinh thể màu tr ng, đối t ợng T khai nhận là ma túy đá. Công an xã Đ tiến hành b t gi và lập biên bản b t ng i phạm tội quả tang đối t ợng Lê Văn T về hành vi tàng tr trái phép chất ma túy, thu gi toàn bộ vật chứng có liên quan tiếp tục điều tra, xác minh, xử lý.

Quá trình điều tra Lê Văn T khai nhận: T là ng i nghiện ma túy và sử dụng trái phép chất - ma túy t năm 2019, loại ma túy T sử dụng là ma túy đá. Vào khoảng 07 gi 00 phút, ngày 16/03/2023 T điều khiển xe mô tô biển số: 75H5-9327 đi t nhà tại ấp H1, xã L, huyện D, tỉnh Bình D ng đến công ty Thép Bình D ng thuộc ấp L1, xã L, huyện D, tỉnh Bình D ng để đi làm. T làm tới khoảng 15 gi 00 phút, ngày 16/03/2023 thì xin nghỉ về sớm đi qua Tây Ninh ch i. Sau đó T đến khu vực gần khu công nghiệp Ph ớc Đông thuộc tỉnh Tây Ninh mua ma túy của một đối t ợng (không r nhân thân lai l ch) với giá 300.000 đồng đem về sử dụng. Sau khi mua ma túy xong T b vào bao thuốc lá và điều khiển xe đến đoạn đ ng ĐT 750 thuộc ấp D1, xã Đ thì b Công an xã Đ kiểm tra, b t quả tang cùng tang vật gồm:

Một gói nylon hàn kín một đầu, bên trong có chứa tinh thể màu tr ng, ch a xác đ nh trọng l ợng/khối l ợng đ ợc niêm phong trong bì th dán kín có ch ký của cán bộ niêm phong Nguy n Trọng H, ông Nguy n Hồng B – Phó Tr ởng Công an xã Đ, ng i chứng kiến Lê Văn T, mộc dấu của Công an xã Đ (Kèm theo biên bản niêm phong); 01 bao thuốc lá màu tr ng, có in ch BÀU BÀN , kích th ớc 06cm x 09cm, đã qua sử dụng; 01 xe mô tô hiệu HONDA wave, màu xanh, biển số 75H5-9327, số máy: Không r , số khung: VO WCH0130 *022137*, đã qua sử dụng;

Bản kết luận giám đ nh số 146/KL-KTHS (MT) ngày 21/3/2023, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình D ng kết luận: Mẫu chất màu tr ng gửi giám đ nh là ma túy có khối l ợng/trọng l ợng 0,1160 gam, loại Methamphetamine.

Tại Cáo trạng số 38/CT-VKSDT-HS ngày 11 tháng 7 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng đã truy tố b cáo Lê Văn T về tội Tàng tr trái phép chất ma tuý theo quy đ nh tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng vẫn gi nguyên quan điểm truy tố b cáo về tội danh, điều luật áp dụng nh nội dung cáo trạng và đề ngh Hội đồng xét xử:

- Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự xử phạt b cáo Lê Văn T t 18 tháng đến 20 tháng tù;

- Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu LIFAN, màu xanh, biển số 75H5-9327, số máy: VD 1P53FMH 22137, số khung VD WCH013D 022137, loại xe 02 bánh t 50-175 cm3 , dung tích xi lanh 108, số loại C110, đã qua sử dụng tạm gi của Lê Văn T. Quá trình điều tra xác đ nh: Đây là xe do Lê Th Kim Cúc, sinh năm 1983, c trú tại xã P, huyện P1, tỉnh Th a Thiên Huế là ng i đứng tên chủ sở h u. Vào năm 2017 bà Cúc đã bán chiếc xe này cho ng i khác (không r nhân thân, lai l ch) nh ng không làm thủ tục sang tên theo quy đ nh, hiện tại không có yêu cầu gì khác. Đồng th i quá trình làm việc Lê Văn T khai nhận đây là xe của cha ruột T tên Lê Văn T1, sinh năm 1962, ngụ cùng đ a chỉ với T (ông T1 đã chết vào năm 2021) để lại cho T sử dụng. C quan cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng đã đăng thông báo truy tìm chủ sở h u theo quy đ nh nh ng không có ai nhận nên đề ngh xử lý giao trả cho T.

Đối với mẫu tinh thể màu tr ng gửi giám đ nh là ma túy có khối l ợng/trọng l ợng còn lại sau giám đ nh là 0,0456 gam, loại Methamphetamine; 01 bao thuốc lá màu tr ng có in ch u BÀU BÀN , kích th ớc 06cm x 09 cm đã qua sử dụng là vật chứng của vụ án thu gi của Lê Văn T là công cụ ph ng tiện, tang vật b cấm sử dụng hoặc sử dụng vào việc phạm tội nên đề ngh t ch thu tiêu hủy.

Đối với ng i bán trái phép chất ma túy cho Lê Văn T do không xác đ nh đ ợc nhân thân, lai l ch của đối t ợng nên C quan cảnh sát điều tra không có căn cứ để điều tra, xử lý.

Tại phiên tòa: B cáo Lê Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nh cáo trạng đã nêu. B cáo không tranh luận gì về tội danh, điều khoản truy tố mà đại diện Viện kiểm sát đ a ra. L i nói sau cùng: B cáo xin giảm nh hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên c sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ s vụ án đã đ ợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận đ nh nh sau:

Các hành vi, quyết đ nh tố tụng của C quan điều tra Công an huyện Dầu Tiếng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, Kiểm sát viên, thành viên Hội đồng xét xử, Th ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về th m quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, b cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết đ nh của c quan tiến hành tố tụng, ng i tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết đ nh tố tụng của c quan tiến hành tố tụng, ng i tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

L i khai của b cáo Lê Văn T tại phiên tòa phù hợp với l i khai của b cáo tại c quan điều tra, các l i khai thống nhất với nhau về quá trình thực hiện hành vi phạm tội, phù hợp với biên bản b t ng i phạm tội quả tang và các chứng cứ khác có trong hồ s vụ án. T nh ng chứng cứ nêu trên có căn cứ kết luận: Vào khoảng 15 gi 00 phút, ngày 16/3/2023, Lê Văn T điều khiển xe mô tô biển số 75H5-9327 đến tỉnh Tây Ninh gặp và mua của một ng i không r nhân thân, lai l ch với số tiền 300.000 đồng ma túy loại Methamphetamine có khối l ợng/trọng l ợng 0,1160 gam rồi cất giấu bên trong 01 gói nylon hàn kín một đầu đem về sử dụng, khi T chạy xe đến đoạn đ ng ĐT 750 thuộc ấp D1, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình D ng thì b Công an xã Đ phát hiện b t gi , cùng tang vật.

B cáo là ng i có đầy đủ năng lực ch u trách nhiệm hình sự, nhận thức đ ợc hành vi tàng tr chất ma tuý là vi phạm pháp luật nh ng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của b cáo T là nguy hiểm cho xã hội, không nh ng xâm phạm đến quản lý độc quyền của Nhà n ớc về các chất ma tuý mà còn gây mất an ninh trật tự tại đ a ph ng. B cáo đã t ng b Công an xã L ra Quyết đ nh xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nh ng b cáo không kh c phục, cai nghiện mà lại tiếp tục sử dụng ma tuý và phạm tội. B cáo đã tàng tr ma túy để sử dụng và b Công an b t quả tang cùng với tang vật là 01 gói nylon hàn kín một đầu chứa chất màu tr ng có khối l ợng/trọng l ợng 0,1160 gam. Tại Bản kết luận giám đ nh số 146/KL-KTHS (MT) ngày 21/3/2023, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình D ng kết luận: Mẫu chất màu tr ng gửi giám đ nh là ma túy có khối l ợng/trọng l ợng 0,1160 gam, loại Methamphetamine. Nh vậy, Cáo trạng số 38/CT-VKSDT-HS ngày 11/7/2023 cũng nh phần luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng đã truy tố b cáo Lê Văn T về tội Tàng tr trái phép chất ma tuý quy đ nh tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Tại phiên toà, b cáo T có thái độ thành kh n khai báo, ăn năn hối cải là các tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự theo quy đ nh tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử cân nh c giảm một phần hình phạt cho b cáo để b cáo thấy đ ợc sự khoan hồng của pháp luật.

B cáo T đã t ng b Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình D ng tuyên phạt 01 năm tù, nh ng cho h ởng án treo, th i gian thử thách là 02 năm về tội Đánh bạc theo Bản án số 67/2020/HSST, ch a đ ợc xoá án tích mà lại tiếp tục phạm tội do cố ý thuộc tr ng hợp tái phạm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy đ nh tại điểm h, khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. B cáo cũng có nhân thân xấu khi đã t ng b Công an xã L ra Quyết đ nh số 190/QĐ-XPHC về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, bằng hình thức phạt tiền, số tiền 750.000 đồng (đã đóng phạt vào ngày 05/10/2021).

Sau khi xem xét đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nh trách nhiệm hình sự, nhân thân của b cáo, thấy rằng, b cáo có nhân thân xấu, không có khả năng tự cải tạo và nhằm đảm bảo cho công tác đấu tranh phòng chống tội phạm ma tuý tại đ a ph ng nên cần thiết phải xử phạt hình phạt tù với mức án nghiêm đủ sức răn đe đối với b cáo, đồng th i, phòng ng a chung cho xã hội.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu có dán ch Wave α, lốc máy xe hiệu LIFAN, màu xanh, biển số 75H5-9327, số máy: VD 1P52FMH*022137*, số khung VDGWCH013DG*022137*, loại xe 02 bánh t 50-175 cm3 , dung tích xi lanh 108, số loại C110, đã qua sử dụng (tình trạng vật chứng tại th i điểm giao nhận: xe đã cũ, không có g ng chiếu hậu bên phải, không bửng) tạm gi của Lê Văn T. Quá trình điều tra xác đ nh: Đây là xe do Lê Th Kim Cúc, sinh năm 1983, c trú tại xã P, huyện P1, tỉnh Th a Thiên Huế là ng i đứng tên chủ sở h u. Vào năm 2017, bà Cúc đã bán chiếc xe này cho ng i khác (không r nhân thân, lai l ch) nh ng không làm thủ tục sang tên theo quy đ nh, hiện tại không có yêu cầu gì khác. Đồng th i quá trình làm việc Lê Văn T khai nhận đây là xe của cha ruột T tên Lê Văn T1, sinh năm 1962, ngụ cùng đ a chỉ với T (ông T1 đã chết vào năm 2021) để lại cho T sử dụng. Vì vậy, C quan cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng đã đăng thông báo truy tìm chủ sở h u theo quy đ nh nh ng không có ai xác nhận quyền sở h u. Có c sở xác đ nh chiếc xe mô tô nói trên là tài sản của b cáo T, không sử dụng vào việc phạm tội nên trả lại cho b cáo.

Đối với 01 (một) bì th đ ợc niêm phong ghi số 146/PC09 (là mẫu vật trong Quyết đ nh tr ng cầu giám đ nh số 43/QĐ ngày 16/3/2023 của C quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện D, tỉnh Bình D ng), có ch ký của cán bộ niêm phong Nguy n Thanh C, ông Nguy n Trọng Hoà; ch ký của ông Nguy n Hồng B c và hình dấu đ của Công an xã Đ và giấy niêm phong có ch ký của Lê Văn T (ng i chứng kiến), Nguy n Ngọc X (cán bộ giao mẫu), Hồ Minh Z (cán bộ nhận mẫu) và hình dấu đ niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình D ng. Khối l ợng mẫu vật niêm phong là 0,0456gam; 01 (một) bao thuốc lá màu tr ng có in ch BÀU BÀN , kích th ớc 06cm x 09cm, đã qua sử dụng (bao thuốc lá bên trong r ng) là vật chứng của vụ án thu gi của Lê Văn T là công cụ ph ng tiện, tang vật b cấm sử dụng, sử dụng vào việc phạm tội nên nên cần t ch thu tiêu hủy.

Đối với ng i bán trái phép chất ma túy cho Lê Văn T do không xác đ nh đ ợc nhân thân, lai l ch của đối t ợng nên C quan cảnh sát điều tra không có căn cứ để điều tra, xử lý là phù hợp.

Xét ý kiến luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với b cáo về phần tội danh, điều khoản áp dụng và mức hình phạt là có căn cứ phù hợp với các tình tiết của vụ án nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: B cáo b kết án nên phải ch u án phí hình sự theo quy đ nh của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố b cáo Lê Văn T phạm tội tàng tr trái phép chất ma tuý .

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điềm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt b cáo Lê Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Th i gian chấp hành hình phạt tù tính t ngày 16/3/2023.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

T ch thu tiêu hu :

+ 01 (một) bì th đ ợc niêm phong ghi số 146/PC09 (là mẫu vật trong Quyết đ nh tr ng cầu giám đ nh số 43/QĐ ngày 16/3/2023 của C quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện D, tỉnh Bình D ng), có ch ký của cán bộ niêm phong Nguy n Thanh C, ông Nguy n Trọng Hoà; ch ký của ông Nguy n Hồng B c và hình dấu đ của Công an xã Đ và giấy niêm phong có ch ký của Lê Văn T (ng i chứng kiến), Nguy n Ngọc X (cán bộ giao mẫu), Hồ Minh Z (cán bộ nhận mẫu) và hình dấu đ niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình D ng. Khối l ợng mẫu vật niêm phong là 0,0456gam.

+ 01 (một) bao thuốc lá màu tr ng có in ch BÀU BÀN , kích th ớc 06cm x 09cm, đã qua sử dụng (bao thuốc lá bên trong r ng).

Trả lại cho b cáo Lê Văn T 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu có dán ch Wave α, lốc máy xe hiệu LIFAN, màu xanh, biển số 75H5-9327, số máy: VDG1P52FMH*022137*, số khung VD WCH013D *022137*, loại xe 02 bánh t 50-175 cm3 , dung tích xi lanh 108, số loại C110, đã qua sử dụng (tình trạng vật chứng tại th i điểm giao nhận: xe đã cũ, không có g ng chiếu hậu bên phải, không bửng).

Theo iên n giao nh n v t ch ng ngà 01/8/2023 của Chi c c Thi hành án dân s hu n D u Ti ng t nh ình D ng

3. Về án phí: Căn cứ Ngh quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Th ng vụ Quốc hội khóa 14 quy đ nh về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

B cáo Lê Văn T phải nộp số tiền 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự s th m.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

B cáo đ ợc quyền kháng cáo bản án trong th i hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án (21/8/2023)

Ng i có quyền lợi, ngh a vụ liên quan đến vụ án đ ợc quyền kháng cáo bản án trong th i hạn 15 ngày kể t ngày nhận đ ợc bản án hoặc bản án đ ợc niêm yết theo quy đ nh pháp luật./.

Cỡ chữ