vanban.org

Bản án 46/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang Tuyên án 24/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Sì Quốc Q, tên gọi khác: Sì Quốc Coóng phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Sì Quốc Q 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 18/02/2023). Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì niêm phong còn nguyên vẹn, mặt sau các mép dán có chữ ký xác nhận của Sì Quốc Q, thành phần tham gia và 05 (năm) hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Sì Quốc Q - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Sì Quốc Q, tên gọi khác: Sì Quốc Coóng phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHIÊM HÓA
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2023/HS-ST
Ngày 24-8-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lâm Hạnh Quỳnh.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Xuân Tuyến.

2. Bà Tưởng Thị Thu

- Thư ký phiên tòa: Bà Bàn Thị Bích Duyên, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Q.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Duy Luận, Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 44/2023/TLST- HS ngày 01 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2023/QĐXXST-HS ngày 03/8/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2023/QĐXXST-HS ngày 15/8/2023 đối với:

* Bị cáo: SÌ QUỐC Q, tên gọi khác: Sì Quốc C; sinh ngày 20/12/1970 tại Thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: T01, NT, thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang; nơi ở hiện nay: T10, NH, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 7/12; dân tộc: Hoa; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Đảng, đoàn thể: Không; con ông Sì Coóc S, sinh năm 1944 và bà Hoàng Thị K, sinh năm 1949; có vợ là Ma Thị M, sinh năm 1972 (đã ly hôn) và có 02 con. Tiền án, tiền sự: Không.

* Nhân thân: Năm 2004 bị Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang xử phạt 07 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy (tại Bản án số 111/STHS ngày 29/9/2004 của Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang), phạt tiền: 7.000.000đ, truy thu: 100.000đ, APHSST: 50.000đ, chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/6/2010, nộp xong 7.150.000đ ngày 21/12/2004.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/02/2023. Hiện đang bị tạm giữ tại nhà tạm giữ Công an huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang, có mặt.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Đoàn Thị B, sinh năm 1966, địa chỉ: Thôn ĐK, xã PB, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang, vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 18/02/2023, Sì Quốc Q, sinh năm 1970, có HKTT: T01, NT, thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang (tạm trú tại T10, NH, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang) bắt xe khách đến thành phố Thái Nguyên mục đích để mua Heroine về sử dụng và bán kiếm lời. Khi đến nơi Q mua được 01 gói Heroine (bên ngoài cuốn bằng băng dính đen, bên trong là lớp giấy màu trắng có chữ và số nhiều màu, tiếp đến là dây nịt màu vàng cuốn 02 lớp nilong màu xanh trong cùng là Heroine) của một người đàn ông không quen biết tại khu vực bến xe khách thành phố Thái Nguyên với giá 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng). Sau khi mua được Heroine, Q tìm chỗ vắng người sử dụng hết một phần bằng cách đốt hít vào cơ thể, số còn lại Q gói lại như cũ và cầm ở tay phải rồi bắt xe khách về nhà, trên đường về Q sử dụng điện thoại di động của mình (số thuê bao 0968886670) gọi đến (số thuê bao 0363600203) của bà Đoàn Thị B, sinh năm 1966, trú tại thôn ĐK, xã PB, huyện Chiêm Hóa, Q nói với B “Chị có lấy hàng không?” ý hỏi B có mua Heroine không, B trả lời “Để cho chị 6 - 7 triệu”. Q đồng ý và hẹn sẽ giao Heroine cho bà B ở khu vực trường cấp 3 ĐH, NH, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày Q xuống xe, đi bộ đến khu vực thôn ĐH, NH, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang, tiếp tục gọi điện thoại cho bà B thông báo “Sắp đến điểm hẹn” sau đó tắt máy, xóa lịch sử cuộc gọi. Ngay sau đó Q bị tổ Công tác Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chiêm Hóa lập biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi Mua bán trái phép chất ma túy, vật chứng thu giữ gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, loại Reno7 màu đen; 01 thẻ sim số 0968886670 cùng gói Heroine có đặc điểm nêu trên (vào hồi 19 giờ 50 phút cùng ngày).

Hồi 21 giờ 45 phút ngày 18/02/2023, tiến hành xét nghiệm tìm chất ma túy đối với Sì Quốc Q, kết quả: (+) Dương tính có chất ma túy trong cơ thể.

Kết luận giám định số 331/GĐKTHS ngày 22/02/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, kết luận: Mẫu vật gửi giám định là chất ma túy. Loại Heroine (Hêrôin); khối lượng 3,923g (Ba phẩy chín hai ba gam).

Tại cơ quan điều tra bị cáo Sì Quốc Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng biên bản khám xét, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai của bị cáo cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Cáo trạng số: 46/CT-VKSCH ngày 31/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang truy tố đối với bị cáo Sì Quốc Q về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh, điều luật đã nêu trong cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Sì Quốc Q (Sì Quốc C) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Sì Quốc Q từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 18/02/2023.

Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì niêm phong còn nguyên vẹn, mặt sau các mép dán có chữ ký xác nhận của Sì Quốc Q, thành phần tham gia và 05 (năm) hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, mặt trước ghi tang vật vụ Sì Quốc Q, giám định ngày 19/02/2023.

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO loại Reno7 màu đen (không kiểm tra chất lượng máy); 01 thẻ sim số 0968886670 được niêm phong dán kín có chữ ký xác nhận của Sì Quốc Q, thành phần tham gia niêm phong và 05 hình dấu của Cơ quan CSĐT Công an huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang trên các mép dán của bì niêm phong.

- Áp dụng các Điều 136, 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo bản án của bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo Sì Quốc Q đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu. Nhất trí với nội dung bản cáo trạng và nội dung luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa; không có ý kiến tranh luận với nội dung luận tội của Viện kiểm sát. Nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức án cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Chiêm Hóa, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp, phù hợp theo quy định của pháp luật.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với biên bản sự việc, biên bản khám xét, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ căn cứ để kết luận: Hồi 19 giờ 50 phút ngày 18/02/2023, tại ĐH, NH, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang, Sì Quốc Q đã có hành vi Tàng trữ trái phép 3,923g (ba phẩy chín hai ba gam) Heroine mục đích để bán kiếm lời. Hành vi của Sì Quốc Q đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Về tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Hội đồng xét xử thấy rằng:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo Sì Quốc Q là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội, hành vi của bị cáo là nghiêm trọng thể hiện rõ ý thức coi thường pháp luật của bị cáo, do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm đối với hành vi phạm tội của mình.

Trước khi phạm tội bị cáo không có tiền án, tiền sự, bị cáo có nhân thân xấu: Năm 2004 bị Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang xử phạt 07 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy (tại Bản án số 111/STHS ngày 29/9/2004 của Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang). Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là "Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải" theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm chung; nội dung buộc tội, đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa cho thấy bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, do đó cần áp dụng mức án tương xứng với mức độ thực hiện hành vi phạm tội, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian như phần đề nghị của Viện Kiểm sát là phù hợp theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật hình sự; nhằm răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời làm gương phòng ngừa tội phạm chung.

Về vật chứng của vụ án: Số ma túy thu giữ của bị cáo Sì Quốc Q trong 01 bì niêm phong còn nguyên vẹn xét thấy đây là vật Nhà nước cấm lưu hành, nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định.

Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO loại Reno7 màu đen (không kiểm tra chất lượng máy); 01 thẻ sim số 0968886670 được niêm phong dán kín có chữ ký xác nhận của Sì Quốc Q, thành phần tham gia niêm phong và 05 hình dấu của Cơ quan CSĐT Công an huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang trên các mép dán của bì niêm phong xét thấy đây là công cụ dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là lao động tự do không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng có giá trị, mua bán ma túy nhưng chưa thu được lợi nhuận nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; không thực hiện tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc cấm hành nghề làm công việc nhất định đối với bị cáo.

Về các nội dung khác:

Đối với người đàn ông đã bán Heroine cho Sì Quốc Q, quá trình điều tra không xác định được tên, tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ xử lý trong vụ án, Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an huyện Chiêm Hóa đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền, Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với bà Đoàn Thị B không hứa hẹn, thỏa thuận, mua ma túy từ trước đối với Sì Quốc Q do vậy không đề cập xử lý, Hội đồng xét xử không xem xét.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật Hình sự; các Điều 106, 135, 136, 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Sì Quốc Q, tên gọi khác: Sì Quốc Coóng phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Sì Quốc Q 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 18/02/2023).

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì niêm phong còn nguyên vẹn, mặt sau các mép dán có chữ ký xác nhận của Sì Quốc Q, thành phần tham gia và 05 (năm) hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, mặt trước ghi tang vật vụ Sì Quốc Q, giám định ngày 19/02/2023.

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO loại Reno7 màu đen (không kiểm tra chất lượng máy); 01 thẻ sim số 0968886670 được niêm phong dán kín có chữ ký xác nhận của Sì Quốc Q, thành phần tham gia niêm phong và 05 hình dấu của Cơ quan CSĐT Công an huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang trên các mép dán của bì niêm phong.

Tình trạng vật chứng như biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 11 tháng 8 năm 2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chiêm Hóa và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chiêm Hóa.

Bị cáo Sì Quốc Q phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai./.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ