vanban.org

Bản án 46/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh Tuyên án 07/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn H và Nguyễn Thị Thanh T phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về hình phạt: Căn c vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 35 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn H và Nguyễn Thị Thanh T phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẦU KÈ
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2023/HS-ST
Ngày: 07 - 8 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU KÈ TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

T7 phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Ai

Các Hội T7 nhân dân:

Ông Nguyễn Nam Đừng

Ông Thạch n

- Thư ký phiên tòa: Bà m Thị H a Xu n, là Th m tra vi n Tòa án nhân d n huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Kè tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Hoài inh - Kiểm sát vi n.

Ngày 07 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở T a án nh n d n huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ T7 công khai vụ án hình sự sơ T7 thụ lý số: 36/2023/TLST - HS ngày 23 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2023/QĐXXST - HS ngày 21 tháng 7 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Họ và t n: Nguyễn Văn H, sinh ngày 01/01/1969, tại tỉnh Trà Vinh. Nơi cư trú: Khóm A, thị trấn C, huyện C1, tỉnh Trà Vinh. Nghề nghiệp: Bán vé số. Trình độ học vấn: Nghe nói đọc và viết đư c Tiếng Việt; Quốc tịch: Việt Nam; D n tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1935 và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1942; V : Nguyễn Thị T1, sinh 1977 (đã ly hôn); Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1989 (chung sống như v ch ng từ năm 2019 đến này) và 03 người con, lớn nhất sinh năm 1990, nhỏ nhất sinh năm 2001; Tiền án, Tiền sự: không có.

Ngày 26 tháng 3 năm 2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cầu Kè ra Quyết định khởi tố bị can và ệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 26 tháng 3 năm 2023 đến nay. Bị cáo có mặt tại phi n t a.

2. Họ và t n: Nguyễn Thị Thanh T, sinh ngày 01/01/1989, tại tỉnh Trà Vinh. Nơi cư trú: Khóm A, thị trấn C, huyện C1, tỉnh Trà Vinh. Nghề nghiệp: Bán vé số. Trình độ học vấn: 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; D n tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Thanh T2, sinh năm 1969 và bà Thạch Thị U, sinh năm 1968. Ch ng: Sơn Ngọc M, sinh 1987 (đã ly hôn); ý Bảo Đ, sinh năm 1980 (ly hôn năm 2019); Nguyễn Văn H, sinh năm 1969 (chung sống như v ch ng từ năm 2019 đến nay) và 02 người con, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 1990. Tiền án, Tiền sự: không có.

Ngày 26 tháng 3 năm 2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cầu Kè ra Quyết định khởi tố bị can và ệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 26 tháng 3 năm 2023 đến nay. Bị cáo có mặt tại phi n t a.

Người làm chứng:

1. Bà Trần Thị K, sinh năm 1960 (có mặt);

Nơi cư trú: Ấp 1, xã H, huyện C1, tỉnh Trà Vinh.

2. Ông Trần Hoài T3, sinh năm 1989 (vắng mặt);

Nơi cư trú: Ấp 1, xã H, huyện C1, tỉnh Trà Vinh.

3. Ông Trần Văn T4, sinh năm 1970 (vắng mặt);

Nơi cư trú: Ấp N, xã T5, huyện C1, tỉnh Trà Vinh.

4. Bà Thị Thúy H2, sinh năm 1983 (vắng mặt);

Nơi cư trú: Khóm B, thị trấn C, huyện C1, tỉnh Trà Vinh.

5. Bà Khiều Thị T6, sinh năm 1956 (vắng mặt);

Nơi cư trú: Ấp N, xã H, huyện C1, tỉnh Trà Vinh.

6. Bà Nguyễn Thị H ng T7, sinh năm 1980 (vắng mặt);

Nơi cư trú: Khóm C, thị trấn C, huyện C1, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong h sơ vụ án và diễn biến tại phi n t a, nội dung vụ án đư c tóm tắt như sau:

Vào khoảng 18 giờ 45 phút ngày 22 tháng 12 năm 2022, Công an thị trấn C tiến hành kiểm tra địa điểm bán vé số tự chọn Thanh T của bị cáo Nguyễn Thị Thanh T và Nguyễn Văn H tại khóm 4, thị trấn C, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh thì phát hiện có 02 (hai) tờ giấy, mặt trước in kết quả xổ số, mặt sau mỗi tờ giấy có ghi nhiều ký hiệu số và chữ cái nghi là tờ phơi ghi các lô số đề n n tiến hành tạm giữ. Kiểm tra b n trong thùng vé số phát hiện, tạm giữ 02 (hai) điện T4 di động nhãn hiệu Vivo Y21S, màn hình cảm ng cùng số tiền 1.320.000đ ng. Tiến hành kiểm tra tr n người của Nguyễn Văn H, phát hiện và tạm giữ số tiền 1.500.000đ ng. Quá trình xác minh nhận thấy vào ngày 22 tháng 12 năm 2022, Nguyễn Thị Thanh T và Nguyễn Văn H thực hiện việc đánh bạc mà đư c thua bằng tiền dưới hình th c ghi bán các lô số đề với số tiền hơn 5.000.000đ ng. Xét thấy, vụ việc không thuộc T7 quyền giải quyết n n Công an thị trấn C chuyển toàn bộ h sơ cùng vật ch ng đã tạm giữ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cầu Kè.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cầu Kè tiến hành làm việc với bị cáo Nguyễn Thị Thanh T và bị cáo Nguyễn Văn H. Qua làm việc xác định, bị cáo T và bị cáo H sinh sống như v ch ng từ năm 2019 đến nay tại Khóm A, thị trấn C, huyện C1, tỉnh Trà Vinh. Hằng ngày bị cáo T bán vé số tại thùng vé số tự chọn Thanh T thuộc khóm 4, thị trấn C, huyện Cầu Kè c n bị cáo H thì đi bán vé số dạo. Do thu nhập từ việc bán vé số bấp b nh, không đủ để trang trãi cho cuộc sống n n vào khoảng tháng 9 năm 2022 bị cáo T nảy sinh ý định thực hiện hành vi đánh bạc trái phép mà đư c thua bằng tiền dưới hình th c ghi bán các lô số đề r i giao cho chủ đề (thầu đề) để hưởng tiền chệnh lệch. Sau đó, bị cáo T bàn bạc với bị cáo H để cùng thực hiện việc ghi bán các lô số đề thì đư c bị cáo H đ ng ý. Để thực hiện hành vi, bị cáo T nhận ghi bán các lô số đề tại thùng vé số tự chọn, còn bị cáo H trong lúc đi bán vé số dạo sẽ nhận ghi bán các lô số đề cho những người mua bên ngoài. Những lúc bị cáo T đi vắng, bị cáo H sẽ thay bị cáo T bán vé số và nhận ghi bán các lô số đề tại thùng vé số của gia đình. Sau khi bán các lô số đề cho người chơi thì bị cáo T và bị cáo H ghi lại vào tờ giấy dò vé số để làm căn c đối chiếu kết quả xổ số để tính T6, thua và chi trả tiền với những người mua số đề. Cách th c tính tiền giữa bị cáo bị cáo T, bị cáo H với những người mua số đề như sau:

Đối với số đầu, số đuôi (cuối) thì bị cáo T và bị cáo H nhận tiền đủ (100%). Đối với số đề mua bao lô đài Miền Nam (An Giang, Bình Thuận), đài Miền Trung (Quảng Bình, Quảng Trị, Bình Định) thì tính 14 lô, đài Miền Bắc (Hà Nội) tính 21 lô. Đối với số đá thì tính tiền 14 lô cho mỗi con số đề đầi Miền Nam và Miền Trung, c n đài Miền Bắc thì tính 21 lô. Tiền trúng số đề tính theo tỷ lệ 1 ăn 70 (nghĩa là mua 1.000 đ ng thì trúng đư c 70.000 đ ng) đối với số mua số đầu, số cuối và bao lô. Đối với lô số đề ba chữ số và số đá đề thì tính theo tỷ lệ 1 ăn 600 (nghĩa là mua 1.000 đ ng thì trúng đư c 600.000 đ ng). Trong ngày 22 tháng 12 năm 2022 bị cáo T cùng bị cáo H thực hiện việc bán các lô số đề cụ thể như sau:

- Đài An Giang

+ Trần Thị K mua bao lô 02 chữ số, 03 chữ số với số tiền 1.470.000đ ng.

+ Trần Hoài T3 mua số đầu, số cuối và bao lô với số tiền 110.000đông.

+ Kiều Thị T6 mua bao lô, số đá với số tiền 280.000đ ng.

+ Một số người không rõ họ t n và địa chỉ mua số đầu, số cuối, bao lô với số tiền 360.000đ ng. Tổng cộng: 2.220.000 đ ng.

- Đài Bình Thuận

+ Trần Thị K mua bao lô 02 chữ số, 03 chữ số với số tiền 210.000đ ng.

+ Trần Hoài T3 mua số đầu, cuối và bao lô với số tiền 110.000đ ng.

+ Nguyễn Văn T4 mua bao lô với số tiền 280.000đ ng.

+ Kiều Thị T6 mua bao lô 02 chữ số với số tiền 140.000đ ng.

+ Một số người không rõ họ t n và địa chỉ mua số đầu, bao lô, số đá với số tiền 568.000đ ng. Tổng 1.308.000 đông

- Đài Miền Trung (Quảng Bình, Quảng Trị, Bình Định)

+ Trần Hoài T3 mua số đầu, số cuối, bao lô hai chữ số với số tiền 390.000đ ng.

+ Một số người không rõ họ t n và địa chỉ mua bao lô 02 chữ số với số tiền 420.000đ ng. Tổng cộng 810.000 đ ng.

- Đài Miền Bắc (Hà Nội)

+ Trần Hoài T3 mua số đầu, bao lô 02 chữ số với số tiền 440.000đ ng.

+ Một số người không rõ họ t n và địa chỉ mua bao lô 02 chữ số, 03 chữ số với số tiền 525.000đ ng. Tổng cộng 975.000 đ ng.

Đối chiếu các lô số đề bị cáo T và bị cáo H đã bán vào ngày 22 tháng 12 năm 2022 với kết quả xổ số kiến thiết xác định bà Trần Thị K, Kiều Thị T6, Trần Hoài T3 và 01 (một) người không rõ họ t n và địa chỉ đã trúng các lô số đề như sau:

- Đài An Giang

+ Trần Thị K trúng bao lô số 03 với số tiền 2.100.000đ ng.

+ Trần Hoài T3 trúng bao lô số 75 với số tiền 350.000đ ng.

+ Một người không rõ họ t n và địa chỉ trúng bao lô số 75 với số tiền 350.000đ ng.

- Đài Bình Thuận

Kiều Thị T6 trúng bao lô số 01 với số tiền 700.000đ ng.

- Đài Miền Trung (Quảng Bình, Quảng Trị Bình Định)

+ Một người không rõ họ t n và địa chỉ trúng bao lô số 24 đài Quảng Trị với số tiền 700.000đ ng.

- Đài Miền Bắc (Hà Nội)

Trần Hoài T3 trúng bao lô số 15, 26, 68 với số tiền 1.400.000đ ng.

Như vậy, số tiền dùng để đánh bạc mà đư c, thua bằng tiền dưới hình th c mua bán các lô số đề của bị cáo T và bị cáo H như sau:

- Đài Miền Nam (An Giang, Bình Thuận) bị cáo T và bị cáo H bán các lô số đề với tổng số tiền 3.528.000đ ng. Kết quả người mua trúng đề với số tiền 3.500.000đ ng. Tổng số tiền mà bị cáo T và bị cáo H tham gia đánh bạc đài Miền Nam vào ngày 22 tháng 12 năm 2022 là 7.028.000đ ng.

- Đài Miền Trung (Quảng Bình, Quảng Trị, Bình Định) bị cáo T và bị cáo H bán các lô số đề với tổng số tiền 810.000đ ng. Kết quả người mua trúng đề với số tiền 700.000đ ng. Tổng số tiền mà bị cáo T và bị cáo H tham gia đánh bạc đài Miền Trung vào ngày 22 tháng 12 năm 2022 là 1.510.000đ ng.

- Đài Miền Bắc (Hà Nội) bị cáo T và bị cáo H bán các lô số đề với tổng số tiền 965.000đ ng. Kết quả người mua trúng đề với số tiền 1.400.000đ ng. Tổng số tiền mà bị cáo T và bị cáo H tham gia đánh bạc đài Miền Bắc vào ngày 22 tháng 12 năm 2022 là 2.365.000đ ng.

Ngoài ra, bị cáo T c n khai nhận ngày 21 tháng 12 năm 2022 bị cáo sử dụng điện T4 di động nhãn hiệu Vivo Y21S, màu xanh loại màn hình cảm ng, tr n điện T4 đư c gắn sim có số thu bao 0706863252, 0924472177 để thực hiện việc mua bán số đề đài Sóc Trăng với bà Thị Thuý H2 - sinh năm 1983, cư trú khóm 6, thị trấn C, huyện Cầu Kè với số tiền 280.000đ ng. Đối chiếu với kết quả xổ số xác định bà H2 không trúng các lô số đề đã mua. Tiến hành kiểm tra điện T4 di động của bị cáo T, bị cáo H và tờ phơi ghi bán lô số đề chỉ c n lưu trữ thông tin mua bán các lô số đề vào ngày 21-22 tháng 12 năm 2022, ngoài ra không c n ch ng c thể hiện việc mua bán số đề diễn ra ở thời gian trước đó n n Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra, xử lý theo quy định.

Cơ quan điều tra tiến hành làm việc với Trần Thị K, Trần Hoài T3, Kiều Thị T6, Nguyễn Văn T4 và Thị Thuý H2. Qua làm việc các đối tư ng khai nhận như sau:

- Trần Thị K thừa nhận có đến thùng bán vé số tự chọn Thanh T để mua số đề đài Miền Nam với tổng số tiền 1.680.000đ ng. Đối chiếu kết quả xổ số, bà Khen trúng bao lô số 03 với số tiền 2.100.000đ ng. Như vậy, số tiền mà Trần Thị K tham gia đánh bạc đài Miền Nam trong ngày 22 tháng 12 năm 2022 là 3.780.000đ ng.

- Trần Hoài T3 thừa nhận có đến thùng bán vé số tự chọn Thanh T để mua số đề đài Miền Nam với tổng số tiền 220.000đ ng. Đối chiếu kết quả xổ số, ông Thanh trúng bao lô số 75 với số tiền 350.000đ ng; Mua số đề đài Miền Trung với tổng số tiền 390.000đ ng. Đối chiếu kết quả xổ số ông Thanh không trúng đề; Mua số đề đài Miền Bắc với tổng số tiền 440.000đ ng. Đối chiếu kết quả xổ số, ông Thanh trúng bao lô số 15, 26, 68 với số tiền 1.400.000đ ng. Như vậy, số tiền mà Trần Hoài T3 gia đánh bạc ngày 22 tháng 12 năm 2022 đài Miền Nam là 570.000đ ng, đài Miền Trung là 390.000đ ng, đài Miền Bắc là 1.840.000đ ng. Như v y, tổng số tiền ông Thanh chơi là 2.800.000 đ ng.

- Kiều Thị T6 trình bày vào ngày 22 tháng 12 năm 2022 không có mua các lô số đề của bị cáo T. Quá trình đối chất bà T6 vẫn giữ nguy n lời trình bày, không thay đổi ý kiến. Do đó, không có cơ sở buộc bà T6 đã tham gia đánh bạc và T6 bạc đài Miền Nam với tổng số tiền 1.120.000đ ng.

- Nguyễn Văn T4 thừa nhận có dùng điện T4 di động nhắn tin cho bị cáo H để mua số đề đài Bình Thuận với số tiền 280.000đ ng, đối chiếu kết quả xổ số ông T4 không trúng đề. Như vậy, số tiền mà Nguyễn Văn T4 tham gia đánh bạc đài Miền Nam trong ngày 22 tháng 12 năm 2022 là 280.000đ ng.

- Thị Thuý H2 khai nhận vào ngày 21 tháng 12 năm 2022 có mua bao lô số 45 và 54 đài sóc Trăng của bị cáo T với số tiền 280.000đ ng, đối chiếu với kết quả xổ xổ bà H2 không trúng đề. Như vậy, xác định số tiền mà Thị Thuý H2 tham gia đánh bạc vào ngày 21 tháng 12 năm 2022 là 280.000đ ng.

Nhận thấy, số tiền mà Trần Thị K, Trần Hoài T3, Nguyễn Văn T4 và Thị Thuý H2 chưa đủ định lư ng để cấu thành tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Đ ng thời các đối tư ng tr n cũng không có tiền án, tiền sự về tội “Đánh bạc” hoặc tội “Tổ ch c đánh bạc”. Căn c Nghị định số: 144/2021/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2021 của Chính Phủ quy định “xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; ph ng, chống tệ nạn xã hội; ph ng cháy, chữa cháy; c u nạn, c u hộ; ph ng, chống bạo lực gia đình”, Công an huyện Cầu Kè ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính mỗi đối tư ng với số tiền 350.000đ ng.

Quá trình điều tra bị cáo T và bị cáo H khai nhận sau khi ghi, bán các lô số đề sẽ thống k vào tờ phơi đề r i sử dụng điện T4 di động nhãn hiệu Vivo Y21S, màu xanh đen màn hình cảm ng của bị cáo H có số thu bao 0328775324 nhắn tin vào số điện T4 0763276226 của Nguyễn Thị H ng T7 - sinh năm 1980, cư trú khóm D, thị trấn C, huyện C1 để giao lại tiền và số đề đã ghi để hưởng tiền ch nh lệch (hoa h ng). Tiền hoa h ng mà bị cáo T và bị cáo H nhận đư c trung bình mỗi ngày khoảng 100.000đ ng. Tiến hành làm việc với Nguyễn Thị H ng T7, qua làm việc bà T7 trình bày không tổ ch c ghi bán các lô số đề và nhận các lô số đề từ bị cáo T và bị cáo H. Đối với số thu bao 0763276226 bà T7 trình bày không có sử dụng và cũng không biết là số điện T4 của ai.

Kết quả tra c u xác định số điện T4 0763276226 t n đăng ký thu bao là ông Kim H3 - sinh năm 1985, cư trú ấp A, xã Đ, huyện C2, tỉnh Trà Vinh. Qua làm việc ông H3 khai nhận không có sử dụng số điện T4 đã n u tr n. Tiến hành đối chất giữ bị cáo H và bà T7, bị cáo T và bà T7; qua đối chất bà T7 vẫn giữ nguy n lời trình bày, không thay đổi ý kiến n n không có cơ sở buộc Nguyễn Thị H ng T7 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại bản cáo trạng số: 38/CT-VKS-HS ngày 22 tháng 6 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn H và Nguyễn Thị Thanh T về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phi n t a hôm nay, Kiểm sát vi n giữ nguy n quan điểm truy tố các bị cáo các bị cáo Nguyễn Văn H và Nguyễn Thị Thanh T. Sau khi phân tích các ch ng c buộc tội đối với các bị cáo và tình tiết giảm nh hình phạt cho các bị cáo như sau: Các bị cáo đều phạm tội lần đầu và thuộc trường h p ít nghi m trọng, quá trình điều tra bị cáo thành kh n khai báo, ăn năn hối cảnh về hành vi phạm tội; tình tiết giảm nh này đư c quy định tại điểm i, s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Ngoài ra, bị cáo T có cậu ruột là iệt sĩ n n bị cáo T đư c hưởng tình tiết giảm nh quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Căn c vào những tình tiết giảm nh n u tr n của từng bị cáo để xem xét giảm nh một phần hình phạt cho mỗi bị cáo để thể hiện sự khoan h ng của pháp luật. Vị đại diện kiểm sát đề nghị Hội đ ng xét xử như sau:

Áp dụng vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H từ 30.000.000 đ ng đến 40.000.000 đ ng.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Thanh T từ 30.000.000 đ ng đến 40.000.000 đ ng.

Về xử lý vật ch ng: Áp dụng khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự;

- Tịch thu lưu h sơ vụ án: 01 (một) tờ phơi ghi lô số đề bằng giấy in kết quả xổ số Miền Nam của đại lý vé số Thanh H4 ngày 16/12/2022 và 01 (một) tờ tờ phơi ghi lô số đề bằng giấy in kết quả xổ số Miền Nam của đại lý vé số Thanh H4 ngày 21/12/2022.

- Tịch thu sung Ng n sách Nhà nước đối với số tiền có li n quan đến việc đánh bạc của các bị cáo như sau:

+ Số tiền 1.320.000đ ng là tiền bán các lô số đề có đư c. Cơ quan điều tra đã gửi vào tài khoản tạm giữ của Cơ quan điều tra mở tại Kho bạc Nhà nước huyện Cầu Kè để quản lý theo quy định.

+ Số tiền 1.000.000 đ ng do bị cáo T tự nguyện giao nộp tiền thu l i bất chính; do bị cáo T và H dùng để đánh bạc cho Viện kiểm sát nh n d n huyện Cầu Kè. Viện kiểm sát nh n d n huyện Cầu Kè đã chuyển số tiền tr n đến Chi cục thi hành án d n sự huyện Cầu Kè để quản lý theo quy định.

+ 01 (một) điện T4 di động nhãn hiệu Vivo Y21s, màu xanh đen loại màn hình cảm ng, đã qua sử dụng. Số IME 861128057661537, 861128057661259, tr n điện T4 đư c gắn sim có số thu bao 0563836232, 0328775324 của bị cáo Nguyễn Văn H.

- Giao cho Cơ quan thi hành án quản lý số tiền 1.500.000đ ng thu giữ đư c do bị cáo H và bị cáo T đổi số kiến thiết; hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cầu Kè đã nộp vào tài khoản Kho bạc nhà nước huyện Cầu Kè số 39490907763200000, để đảm bảo thi hành án cho các bị cáo.

- Hoàn trả cho bị cáo Nguyễn Thị Thanh T 01 (một) điện T4 di động nhãn hiệu Vivo Y21s, màu xanh loại màn hình cảm ng, đã qua sử dụng. Số IME 8611280556142976, 8611280556142968, tr n điện T4 đư c gắn sim có số thu bao 0706863252, 0924472177. Viện kiểm sát nh n d n huyện Cầu Kè đã ra Quyết định chuyển vật ch ng tr n từ Cơ quan Cảnh sát điều tra sang Chi cục Thi hành án d n sự huyện Cầu Kè quản lý theo quy định.

Ngoài ra, vị Kiểm sát vi n c n đề nghị Hội đ ng xét xử giải quyết án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phi n t a các bị cáo H và bị cáo T thành kh n khai nhận hành vi vi phạm như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nh n d n huyện Cầu Kè đã truy tố cũng như lời luận tội của Kiểm sát vi n là có tham gia đánh bạc bằng hình th c ghi bán các lô số đề cho nhiều người n n các bị cáo đều xác định không bị oan, sai.

Xét thấy, quan điểm của Kiểm sát vi n tại phi n t a phù h p với quan điểm của Hội đ ng xét xử n n đư c chấp nhận.

Bị cáo Nguyễn Văn H và bị cáo Nguyễn Thị Thanh T không phát biểu tranh luận.

ời nói sau cùng của các bị cáo Nguyễn Văn H và bị cáo Nguyễn Thị Thanh T đều xin Hội đ ng xét xử xem xét giảm nh số tiền phạt cho các bị cáo; do các bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Tr n cơ sở nội dung vụ án, căn c vào các tài liệu trong h sơ vụ án đã đư c tranh tụng tại phi n t a, Hội đ ng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Người làm ch ng ông Trần Hoài T3, ông Trần Văn T4, bà Thị Thúy H2, bà Kiều Thị T6 và bà Nguyễn Thị H ng T7 đã đư c T a án triệu tập h p lệ nhưng vắng mặt tại phi n t a không rõ lý do và việc vắng mặt của ông Trần Hoài T3, ông Trần Văn T4, bà Thị Thúy H2, bà Kiều Thị T6 và bà Nguyễn Thị H ng T7 không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Trần Hoài T3, ông Trần Văn T4, bà Thị Thúy H2, bà Kiều Thị T6 và bà Nguyễn Thị H ng T7 theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Xét thấy, tại phiên tòa hôm nay các bị cáo H, T đều khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng mà Viện kiểm sát nh n d n huyện Cầu Kè đã truy tố cũng như lời luận tội của Kiểm sát vi n. ời khai này của các bị cáo phù h p với lời khai của người làm ch ng, phù h p với bi n bản khám nghiệm hiện trường và những tài liệu ch ng c khác có trong h sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:

Bị cáo Nguyễn Thị Thanh T và bị cáo Nguyễn Văn H chung sống như v ch ng với nhau tại thị trấn C, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh. Bị cáo T và bị cáo T có thùng vé số tự chọn Thanh T thuộc khóm 4, thị trấn C, huyện Cầu Kè. H2 ngày bị cáo T bán vế sổ tại thùng bán vé số, c n bị cáo H thì đi bán vé số dạo. Bị cáo T muốn kiếm th m thu nhập từ việc ghi bán số n n bị cáo T nảy sinh ý định đánh bạc mà đư c thua bằng tiền dưới hình th c ghi bán các lô số đề. Để thực hiện ý định, bị cáo T bàn bạc với bị cáo H và đư c bị cáo H chấp nhận. Nhiệm vụ của bị cáo T là bán vé số và ghi bán các lô số đề tại thùng vé số tự chọn, c n bị cáo H trong lúc bán vé số dạo nếu ai có nhu cầu mua số đề thì bị cáo sẽ bán. Sau đó, hai bị cáo tập h p các lô số đề đã bán trong ngày vào tờ phơi đề r i đối chiếu với kết quả xổ số kiến thiết để chung chi tiền với người mua số đề khi trúng đề. Vào ngày 22 tháng 12 năm 2022, bị cáo T và bị cáo H thực hiện việc mua bán số đề đài Miền Nam (An Giang, Bình Thuận) với tổng số tiền 7.028.000đ ng; đài Miền Trung (Quảng Bình, Quảng Trị, Bình Định) với tổng số tiền 1.510.000đ ng; đài Miền Bắc (Hà Nội) với tổng số tiền 2.365.000đ ng.

Do đó, hành vi đánh bạc trái phép mà đư c thua bằng tiền dưới hình th c mua bán các lô số đề đài Miền Nam (An Giang, Bình Thuận) vào ngày 22 tháng 12 năm 2022 của bị cáo Nguyễn Thị Thanh T và bị cáo Nguyễn Văn H với tổng số tiền 7.028.000đ ng đã cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã x m phạm đến trật tự an toàn ở địa phương, ảnh hưởng đến việc quản lý hành chính của cơ quan nhà nước, bản th n các bị cáo nhận th c đư c việc đánh bạc bằng hình th c lắc bầu cua mà đư c thua bằng tiền bị pháp luật nghi m cấm. Thay vì các bị cáo cần làm tốt vai tr của bản th n trong gia đình, lo chí thú làm ăn để phát triển kinh tế, lo cho gia đình, nuôi dưỡng và giáo dục con cái về nh n cách, ý th c chấp hành pháp luật. Không làm đư c như vậy, mà các bị cáo chỉ vì ham m tham gia đánh bạc trái phép bằng hình th c ghi bán các lô số đề để thu l i ích bất chính mà bất chấp sự nghi m cấm của pháp luật và cố ý vi phạm. Do đó, Hội đ ng xét xử cần xem xét xử phạt các bị cáo một m c án phù h p với tính chất, m c độ phạm tội của từng bị cáo, để răng đe, giáo dục các bị cáo có ý th c chấp hành pháp luật, bảo đảm cho việc cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành người công d n tốt, có l i cho gia đình và có ích cho xã hội.

Tuy nhi n, khi quyết định hình phạt, Hội đ ng xét xử cũng xem xét đến những tình tiết giảm nh cho các bị cáo như sau: Các bị cáo đều phạm tội lần đầu và thuộc trường h p ít nghi m trọng, sau khi phạm tội các bị cáo thành kh n khai báo, ăn năn hối cải; tình tiết giảm nh này đư c quy định tại điểm i, s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Ngoài ra, bị cáo T có cậu ruột là iệt sĩ; bị cáo H có trình độ văn hóa thấp (không có đi học chỉ biết đọc biết viết); cả bị cáo H và bị cáo T có H cảnh kinh tế khó khăn và đư c chính quyền địa phương xác nhận nên đư c hưởng tình tiết giảm nh quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Căn c vào những tình tiết giảm nh n u tr n Hội đ ng xét xử sẽ xem xét giảm nh một phần hình phạt cho các bị cáo để thể hiện sự khoan h ng của pháp luật.

Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người có T7 quyền tiến hành tố tụng: Tại phi n t a hôm nay, Hội đ ng xét xử đã T7 tra các quyết định của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nh n d n; hành vi của Điều tra vi n, Kiểm sát vi n trong quá trình điều tra, truy tố; xét thấy các quyết định của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát; hành vi của Điều tra vi n, Kiểm sát vi n đều đúng quy định pháp luật, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại hoặc có ý kiến nào khác phản đối n n các quyết định và hành vi tr n đều h p pháp.

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về xử lý vật ch ng: Áp dụng khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự;

- Tịch thu lưu h sơ vụ án: 01 (một) tờ phơi ghi lô số đề bằng giấy in kết quả xổ số Miền Nam của đại lý vé số Thanh H4 ngày 16/12/2022 và 01 (một) tờ tờ phơi ghi lô số đề bằng giấy in kết quả xổ số Miền Nam của đại lý vé số Thanh H4 ngày 21/12/2022.

- Tịch thu sung Ng n sách Nhà nước đối với số tiền có li n quan đến việc đánh bạc của các bị cáo như sau:

+ Số tiền 1.320.000đ ng là tiền bán các lô số đề có đư c. Cơ quan điều tra đã gửi vào tài khoản tạm giữ của Cơ quan điều tra mở tại Kho bạc Nhà nước huyện Cầu Kè để quản lý theo quy định.

+ Số tiền 1.000.000 đ ng do bị cáo T tự nguyện giao nộp tiền thu l i bất chính; do bị cáo T và H dùng để đánh bạc cho Viện kiểm sát nh n d n huyện Cầu Kè. Viện kiểm sát nh n d n huyện Cầu Kè đã chuyển số tiền tr n đến Chi cục thi hành án d n sự huyện Cầu Kè để quản lý theo quy định.

+ 01 (một) điện T4 di động nhãn hiệu Vivo Y21s, màu xanh đen loại màn hình cảm ng, đã qua sử dụng. Số IME 861128057661537, 861128057661259, tr n điện T4 đư c gắn sim có số thu bao 0563836232, 0328775324 của bị cáo Nguyễn Văn H.

- Giao cho Cơ quan thi hành án quản lý số tiền 1.500.000đ ng thu giữ đư c do bị cáo H và bị cáo T đổi số kiến thiết; hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cầu Kè đã nộp vào tài khoản Kho bạc nhà nước huyện Cầu Kè số 39490907763200000, để đảm bảo thi hành án cho các bị cáo.

- Hoàn trả cho bị cáo Nguyễn Thị Thanh T 01 (một) điện T4 di động nhãn hiệu Vivo Y21s, màu xanh loại màn hình cảm ng, đã qua sử dụng. Số IME 8611280556142976, 8611280556142968, tr n điện T4 đư c gắn sim có số thuê bao 0706863252, 0924472177. Viện kiểm sát nh n d n huyện Cầu Kè đã ra Quyết định chuyển vật ch ng tr n từ Cơ quan Cảnh sát điều tra sang Chi cục Thi hành án d n sự huyện Cầu Kè quản lý theo quy định.

Xét bản luận tội của vị Kiểm sát vi n kết luận các bị cáo Nguyễn Văn H và Nguyễn Thị Thanh T phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, m c hình phạt mà vị Kiểm sát vi n đề nghị là tương x ng với tính chất vụ án n n đư c Hội đ ng xét xử chấp nhận.

Đối với những người tham gia đánh bạc g m: Trần Thị K, Trần Hoài T3, Nguyễn Văn T4 và Thị Thuý H2 chưa đủ định lư ng để cấu thành tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Đ ng thời các đối tư ng tr n cũng không có tiền án, tiền sự về tội “Đánh bạc” hoặc tội “Tổ ch c đánh bạc”. Căn c Nghị định số: 144/2021/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2021 của Chính Phủ quy định “xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; ph ng, chống tệ nạn xã hội; ph ng cháy, chữa cháy; c u nạn, c u hộ; ph ng, chống bạo lực gia đình”, Công an huyện Cầu Kè ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính mỗi người với số tiền 350.000đ ng.

Về án phí sơ T7: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Căn c Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí T a án.

Buộc các bị cáo Nguyễn Văn H và Nguyễn Thị Thanh T phải chịu án phí hình sự sơ T7 theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo đư c kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ tr n;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn H và Nguyễn Thị Thanh T phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về hình phạt:

Căn c vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 35 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H 40.000.000đ ng (Bốn mươi triệu đồng).

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Thanh T 40.000.000đ ng (Bốn mươi triệu đồng).

Về vật ch ng: Áp dụng khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

- Tịch thu lưu h sơ vụ án: 01 (một) tờ phơi ghi lô số đề bằng giấy in kết quả xổ số Miền Nam của đại lý vé số Thanh H4 ngày 16/12/2022 và 01 (một) tờ tờ phơi ghi lô số đề bằng giấy in kết quả xổ số Miền Nam của đại lý vé số Thanh H4 ngày 21/12/2022.

- Tịch thu sung Ng n sách Nhà nước đối với số tiền có li n quan đến việc đánh bạc của các bị cáo như sau:

+ Số tiền 1.320.000đ ng là tiền bán các lô số đề có đư c. Cơ quan điều tra đã gửi vào tài khoản tạm giữ của Cơ quan điều tra mở tại Kho bạc Nhà nước huyện Cầu Kè để quản lý theo quy định.

+ Số tiền 1.000.000 đ ng do bị cáo T tự nguyện giao nộp tiền thu l i bất chính; do bị cáo T và H dùng để đánh bạc cho Viện kiểm sát nh n d n huyện Cầu Kè. Viện kiểm sát nh n d n huyện Cầu Kè đã chuyển số tiền tr n đến Chi cục thi hành án d n sự huyện Cầu Kè để quản lý theo quy định.

+ 01 (một) điện T4 di động nhãn hiệu Vivo Y21s, màu xanh đen loại màn hình cảm ng, đã qua sử dụng. Số IME 861128057661537, 861128057661259, tr n điện T4 đư c gắn sim có số thu bao 0563836232, 0328775324 của bị cáo Nguyễn Văn H.

- Giao cho Cơ quan thi hành án quản lý số tiền 1.500.000đ ng thu giữ đư c do bị cáo H và bị cáo T đổi số kiến thiết; hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cầu Kè đã nộp vào tài khoản Kho bạc nhà nước huyện Cầu Kè số 39490907763200000, để đảm bảo thi hành án cho các bị cáo.

- Hoàn trả cho bị cáo Nguyễn Thị Thanh T 01 (một) điện T4 di động nhãn hiệu Vivo Y21s, màu xanh loại màn hình cảm ng, đã qua sử dụng. Số IME 8611280556142976, 8611280556142968, tr n điện T4 đư c gắn sim có số thu bao 0706863252, 0924472177. Viện kiểm sát nh n d n huyện Cầu Kè đã ra Quyết định chuyển vật ch ng tr n từ Cơ quan Cảnh sát điều tra sang Chi cục Thi hành án d n sự huyện Cầu Kè quản lý theo quy định.

- Về án phí sơ T7: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Căn c điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí T a án.

Buộc các bị cáo Nguyễn Văn H và Nguyễn Thị Thanh T, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đ ng án phí hình sự sơ T7.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phi n t a có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuy n án.

Trường h p bản án đư c thi hành theo quy định tại Điều 2 uật thi hành án d n sự thì người đư c thi hành án d n sự, người phải thi hành án d n sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền y u cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 uật thi hành án d n sự, thời hiệu thi hành án đư c thực hiện theo qui định tại Điều 30 uật thi hành án d n sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ T7

Cỡ chữ