vanban.org

Bản án 46/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 16/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Đặng Văn T (tên gọi khác: B) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt Đặng Văn T (B) 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16 tháng 02 năm 2023. Phạt bổ sung bị cáo T số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Văn T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý" - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đặng Văn T (tên gọi khác: B) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẾN CẦU
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2023/HS-ST
Ngày 16-6-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU – TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Tiến Danh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Hải;

2. Ông Lê Văn Rẽn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Cao Cường - Thư ký Toà án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Hồ Sơn Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 6 năm 2023, tại Trường Trung học cơ sở xã Lợi Thuận, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 35/2023/TLST-HS ngày 20 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:

Đặng Văn T (tên gọi khác: B), sinh ngày 16/3/1998 tại tỉnh Tây Ninh. Nơi cư trú và chỗ ở hiện nay: Ấp X, xã Y, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ học vấn: 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn L (chết) và bà Lê Thị V; vợ, con: chưa có; tiền án: không có; tiền sự: không có; nhân thân: Ngày 10/6/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu xử phạt 02 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, chấp hành xong ngày 10/01/2017. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/02/2023 cho đến nay. “có mặt”

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 16/02/2023, tại trước cổng Khu công nghiệp TMTC thuộc ấp X, xã Y, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh, Công an huyện Bến Cầu phối hợp cùng Công an xã Lợi Thuận, huyện Bến Cầu bắt quả tang Đặng Văn T đang bán trái phép 02 bịch ma túy dạng đá giá 500.000 đồng cho Nguyễn Văn Q, sinh năm 1991, ngụ ấp L, xã H, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh và Nguyễn Thị Tr, sinh năm 1997, ngụ ấp L1, xã H, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh.

Đặng Văn T khai nhận: Vào khoảng 08 giờ ngày 16/02/2023, T đón xe ôm đến khu vực Suối Sâu thuộc phường M, thị xã N, tỉnh Tây Ninh gặp một người đàn ông tên Chịch (không rõ nhân thân, lai lịch) mua 1.800.000 đồng ma túy dạng đá, với mục đích đem về phân nhỏ ra bán lại cho người nghiện kiếm lợi. Đến khoảng 16 giờ 55 phút cùng ngày, T đang ở nhà tại ấp X, xã Y, huyện Bến Cầu thì Nguyễn Thị Tr dùng số điện thoại 03523703xx điện vào số điện thoại của T số 09379449yy hỏi mua hai bịch ma túy dạng đá giá 500.000 đồng, T đồng ý bán và hẹn địa điểm mua bán trước cổng Khu công nghiệp TMTC thuộc ấp X, xã Y, huyện Bến Cầu. Sau đó, T đón xe ôm của một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) đến điểm hẹn bán ma túy, T gặp Tr và Q, T lấy 01 võ bao thuốc lá hiệu Hero bên trong chứa 04 bịch ma túy, T lấy ra 02 bịch đưa cho Tr và Q, Tr nhận ma túy và đưa cho T 500.000 đồng, T cất 500.000 đồng và 01 võ bao thuốc lá hiệu Hero bên trong chứa 02 bịch ma túy còn lại vào túi quần định đi về thì bị bắt quả tang.

Nguyễn Thị Tr và Nguyễn Văn Q khai nhận: Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 16/02/2023, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên mỗi người hùn 250.000 đồng để mua ma túy dạng đá để sử dụng. Sau đó, Tr điện thoại cho Đặng Văn T hỏi mua 500.000 đồng ma túy dạng đá, T đồng ý bán và hẹn địa điểm mua bán khu vực trước cổng Khu công nghiệp TMTC. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, Tr và Q đến điểm hẹn mua ma túy thì gặp T, T lấy 02 bịch ma túy ra bán cho Tr và Q thì bị bắt quả tang.

Ngoài lần bị bắt quả tang, Đặng Văn T còn khai nhận: Vào khoảng 13 giờ ngày 09/02/2023, tại nhà của Đặng Văn T thuộc ấp M, xã N, huyện Bến Cầu, T còn bán cho Nguyễn Thị Tr 01 bịch ma túy dạng đá giá 300.000 đồng.

Kết luận giám định số: 240/KL-KTHS ngày 21/02/2023, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh kết luận:

- Mẫu chất tinh thể rắn màu trắng bên trong 02 bịch nylon trong suốt hàn kín 03 đầu, 01 đầu khóa bóp có viền màu xanh (ký hiệu M1) gửi đến giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,0168 gam.

- Mẫu chất tinh thể rắn màu trắng bên trong 02 bịch nylon trong suốt hàn kín 03 đầu, 01 bịch có đầu khóa bóp có viền màu xanh và 01 bịch có đầu khóa bóp có viền màu đỏ (ký hiệu M2) gửi đến giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,4990 gam.

Kiểm tra nồng độ chất ma túy, phát hiện Đặng Văn T, Nguyễn Thị Tr và Nguyễn Văn Q có kết quả dương tính với chất ma túy loại Methamphetamine.

Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng:

- Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 16/02/2023:

+ Thu giữ trên tay Nguyễn Thị Tr 02 (hai) bịch nylon trong suốt hàn kín 03 đầu, 01 đầu khóa bóp có viền màu xanh, chứa chất bột màu trắng (nghi là chất ma túy);

+ Thu giữ trong túi quần Đặng Văn T 01 võ bao thuốc lá hiệu Hero bên trong chứa 02 (hai) bịch nylon trong suốt hàn kín 03 đầu, 01 bịch có đầu khóa bóp có viền màu xanh và 01 bịch có đầu khóa bóp có viền màu đỏ, chứa chất bột màu trắng (nghi là chất ma túy);

+ Thu giữ trên người Đặng Văn T 01 điện thoại di động IPHONE 5, số Imel: 352008069808829 và số tiền 500.000 (năm trăm nghìn) đồng.

- Khám xét nhà Đặng Văn T không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Đặng Văn T không có tài sản nên không kê biên.

Tại phiên toà, bị cáo Đặng Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, vật chứng bị thu giữ như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

Tại bản Cáo trạng số: 37/CT-VKS-BC ngày 19 tháng 4 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo Đặng Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 35 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đặng Văn T từ 08 (tám) năm đến 09 (chín) năm tù. Phạt bổ sung từ 5.000.000 (năm triệu) đến 7.000.000 (bảy triệu) đồng..

Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự. Đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.

Tại phiên toà hôm nay: Bị cáo T thống nhất với bản luận tội của Kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận, bào chữa.

Bị cáo T nói lời sau cùng: Bị cáo ăn năn về hành vi của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bến Cầu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo thể hiện: Vào lúc 17 giờ 30 phút ngày 16/02/2023, tại trước cổng Khu công nghiệp TMTC thuộc ấp M, xã N, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh, bị cáo Đặng Văn T bán 02 bịch ma túy cho Nguyễn Thị Tr và Nguyễn Văn Q với giá 500.000 đồng thì bị bắt quả tang và còn thu giữ trong túi quần bị cáo T 02 bịch ma túy, mục đích bán lại cho người khác. Kết luận giám định số: 240/KL-KTHS ngày 21/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh kết luận: Mẫu chất tinh thể rắn màu trắng bên trong 02 bịch nylon trong suốt hàn kín 03 đầu, 01 đầu khóa bóp có viền màu xanh (ký hiệu M1), gửi đến giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,0168 gam và Mẫu chất tinh thể rắn màu trắng bên trong 02 bịch nylon trong suốt hàn kín 03 đầu, 01 bịch có đầu khóa bóp có viền màu xanh và 01 bịch có đầu khóa bóp có viền màu đỏ (ký hiệu M2), gửi đến giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,4990 gam. Ngoài ra, bị cáo T còn khai nhận khoảng 13 giờ 00 phút ngày 09/02/2023, tại nhà bị cáo T thuộc ấp X, xã Y, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh thì bị cáo còn bán cho Nguyễn Thị Tr 01 bịch ma túy, dạng đá với giá 300.000 đồng.

Tại phiên tòa, bị cáo T khai phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các lời khai của người làm chứng và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo Đặng Văn T đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với các tình tình tiết “Phạm tội 02 lần trở lên” và “Đối với 02 người trở lên” theo qui định tại điểm b, c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, như luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ.

Vụ án mang tính chất rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bản thân bị cáo biết việc mua bán, sử dụng trái phép các chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo cố tình thục hiện. Hành vi của bị cáo là trái pháp luật, xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma tuý, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội và là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Do đó cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.

Khi quyết định hình phạt, có xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo tự thú khai ra lần phạm tội trước đó và thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo một lần bị xử lý hình sự, không có tiền án, nhưng bị cáo không biết lấy đó làm bài học nên cần xem xét khi lượng hình.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận. Bởi lẽ bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng và bản thân là người thường xuyên sử dụng ma túy. Do đó xét thấy cần áp dụng hình phạt tù giam để cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, để cải tạo giáo dục cho bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội, biết chấp hành pháp luật.

Đối với người đàn ông tên Chịch bán ma túy cho bị cáo T do không rõ lai lịch nên không làm việc được, khi nào làm rõ xử lý sau.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo T, Nguyễn Thị Tr và Nguyễn Văn Q, Công an huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh đã xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.

Về hình phạt bổ sung: Theo qui định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự thì bị cáo T có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, nên phạt bổ sung bị cáo T số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với mẫu chất tinh thể màu trắng bên trong 02 bịch nylon trong suốt hàn kín 03 đầu, 01 đầu khóa bóp có viền màu xanh (ký hiệu M1) và mẫu chất tinh thể màu trắng bên trong 02 bịch nylon trong suốt hàn kín 03 đầu, 01 bịch có đầu khóa bóp có viền màu xanh và 01 bịch có đầu khóa bóp có viền màu đỏ (ký hiệu M2). Tại kết luận giám định số: 240/KL-KTHS ngày 21/02/2023 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an Tây Ninh, kết luận: Mẫu ký hiệu M1 gửi đến giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,0168 gam, đã sử dụng hết trong công tác giám định và mẫu ký hiệu M2 gửi đến giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,4490 gam, hoàn lại sau giám định là 0,4373 gam; còn lại được niêm phong trong cùng 01 (một) gói ký hiệu vụ số 240/M2. Do là chất ma túy nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, IMEL 354198100042872 của bị cáo T liên quan đến việc phạm tội nên cần tịch thu, sung công quỹ nhà nước.

- Đối với số tiền Việt Nam 500.000 (năm trăm nghìn) đồng do bị cáo T bán ma túy có được nên cần tịch thu, sung công quỹ nhà nước.

Về án phí: Bị cáo T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Đặng Văn T (tên gọi khác: B) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm b, c khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 35 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Đặng Văn T (B) 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16 tháng 02 năm 2023. Phạt bổ sung bị cáo T số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói ký hiệu vụ số 240/M2.

- Tịch thu, sung công quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, IMEL 354198100042872, đã qua sử dụng và Tiền Việt Nam 500.000 (năm trăm nghìn) đồng.

(theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 10/5/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh)

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Đặng Văn T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Đặng Văn T được quyền kháng cáo theo trình tự thủ tục phúc thẩm lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ