vanban.org

Bản án 46/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 17/03/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 17/03/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Rơ Ông K’Th.

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Rơ Ông K’Th phạm tội “Hủy hoại rừng”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ro Ong KTh "Huy hoai rung" - phạm tội hủy hoại rừng (điều 243 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Rơ Ông K’Th.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 243 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2023/HS-PT
Ngày: 17 - 3 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

- Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa:

Ông Nguyễn Hữu Hồng

- Các Thẩm phán:

Ông Đỗ Mạnh Hùng

Ông Đặng Ngọc Bình

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hương Trang – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Đào - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý Số 33/2023/TLPT-HS ngày 13 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo Rơ Ông K’Th; do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2023/HS-ST ngày 04/01/2023 của Tòa án nhân dân huyện LD, tỉnh Lâm Đồng.

Bị cáo có kháng cáo: Rơ Ông K’ Th, sinh năm 1993 tại Lâm Đồng; nơi đăng ký HKTT và cư trú: Thôn K, xã Đ, huyện LD, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Chil; giới tính: Nữ; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Kơ Tría Ha Ng và bà R’Ông K’ Ch; chồng là NDrang Ha M; con: có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2021. Tiền án, tiền sự: Không. (có mặt)

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Hà Thị Đ và bà Nguyễn Ngọc Hoàng G – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lâm Đồng. (vắng mặt)

Trong vụ án này còn có bị cáo khác và nguyên đơn dân sự không kháng cáo; không bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng cuối tháng 02/2022, tại lô a, khoảnh 6, tiểu khu 63, lâm phần do Ban quản lý rừng phòng hộ ĐN quản lý, thuộc địa giới hành chính xã Đ, huyện LD, tỉnh Lâm Đồng, R’Ông K’Ch và Rơ Ông K’Th mỗi người sử dụng 01 dao rựa để chặt hạ, phát dọn các cây tạp, cây lồ ô trên đất rừng nhằm mục đích chiếm lấy đất để làm nông nghiệp. K’Th là người chặt hạ phần lớn các cây rừng, K’Ch phụ giúp phát dọn các cây lồ ô, cây bụi nhỏ. Các bị cáo thực hiện hành vi phá rừng nhiều lần, mỗi lần cách khoảng 05 – 06 ngày, trong khoảng 15 ngày, các bị cáo chặt hạ là cây tạp, cây lồ ô trên diện tích 7.254 m2 đất rừng sản xuất.

Biên bản kiểm tra số 003061/BB-KT ngày 17/4/2022 của Trạm quản lý bảo vệ rừng – Ban quản lý rừng phòng hộ ĐN xác định Rơ Ông K’ Th, R’Ông K’ Ch đã chặt cây lồ ô, cây gỗ tạp đường kính từ 06cm – 20cm.

Kết quả khám nghiệm hiện trường ngày 20/4/2022 có sự tham dự của các bị cáo, tại hiện trường, đã xác định vị trí các bị cáo phá rừng thuộc lô a, khoảnh 6, tiểu khu 63 có 170 cây gỗ tạp và toàn bộ cây lồ ô có mật độ 3.300/ ha trên diện tích 7.254 m2 đất rừng. Dấu vết chặt hạ bằng dao rựa (xà gạc).

Vật chứng của vụ án: 02 chiếc dao rựa phát các bị cáo đã tự nguyện giao nộp là công cụ các bị cáo đã sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội; 5,918 m3 gỗ tạp là lâm sản bị thiệt hại còn lại tại hiện trường do hành vi phá rừng của bị cáo, số lâm sản này không thể thu hồi nên các cơ quan chức năng thống nhất để tự tiêu hủy tại hiện trường.

Nguyên đơn dân sự là Ban quản lý rừng phòng hộ ĐN yêu cầu bị cáo phải bồi thường toàn bộ giá trị thiệt hại về lâm sản theo Kết luận định giá tài sản số 25/KL-HĐĐGTS ngày 23/6/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - huyện LD là 20.213.568 đồng. Bị cáo K’Th đã tạm nộp 11.000.000 đồng, K’ Chài đã nộp 9.213.568 đồng.

Cáo trạng số 20/CT – VKSLD ngày 28/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện LD, tỉnh Lâm Đồng truy tố các bị cáo: Rơ Ông K’ Th, R’Ông K’Ch về tội “Huỷ hoại rừng” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 243 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây viết là BLHS 2015)

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2023/HS-ST ngày 04/01/2023 của Tòa án nhân dân huyện LD, tỉnh Lâm Đồng đã xử:

1. Tuyên bố các bị cáo Rơ Ông K’ Th, R’Ông K’Ch phạm tội “Huỷ hoại rừng”.

2. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 243; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 58 BLHS 2015. Xử phạt bị cáo Rơ Ông K’ Th 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt để thi hành án.

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 243; các điểm b, o, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 và Điều 65 BLHS 2015. Xử phạt bị cáo R’Ông K’ Ch 12 (mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Ngoài ra bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của các bị cáo.

Ngày 13/01/2023 bị cáo Rơ Ông K’Th kháng cáo xin hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không thắc mắc khiếu nại bản án sơ thẩm và giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo. Đồng thời tiếp tục từ chối người bào chữa, đề nghị Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt người bào chữa theo quy định.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng giữ quyền công tố tại phiên tòa phúc thẩm phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (sau đây viết là HĐXX) nhận định như sau:

Xét đơn kháng cáo của bị cáo Rơ Ông K’Th gửi đến Tòa án trong hạn luật định và đúng quy định nên thời hạn kháng cáo của bị cáo là hợp lệ, nội dung kháng cáo của bị cáo là xin giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo.

Về tố tụng: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đề nghị HĐXX xét xử vắng mặt người bào chữa cho bị cáo. Đề nghị của bị cáo đúng quy định của pháp luật nên HĐXX tiếp tục xét xử vụ án.

Do muốn có đất để sản xuất nên khoảng cuối tháng 02/2022, các bị cáo đến lô a, khoảnh 6, tiểu khu 63, thuộc địa giới hành chính xã Đ, huyện LD, tỉnh Lâm Đồng, do Ban quản lý rừng phòng hộ ĐN quản lý. Mỗi bị cáo dùng một dao rựa để chặt hạ, phát dọn các cây tạp, cây lồ ô trên diện tích 7.254m2 đất rừng. Bị cáo K’Th là người chặt hạ các cây tạp, lồ ô; còn bị cáo K’Ch phụ giúp thu gom và chặt các cây bụi nhỏ.

Theo Kết luận định giá tài sản số 25/KL-HĐĐGTS ngày 23/6/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - huyện LD thì thiệt hại về lâm sản do các bị cáo gây ra là 20.213.568 đồng. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm các quy định của Nhà nước về khai thác và bảo vệ rừng, xâm hại đến sự ổn định và bền vững của môi trường sinh thái, bị cáo đã có hành vi chặt phá rừng trái phép, tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo có thái độ thành khẩn, ăn năn hối cải, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện LD, tỉnh Lâm Đồng đã xét xử. Tội phạm và hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo đã được bản án sơ thẩm phân tích, đánh giá và tuyên bố bị cáo phạm tội “Hủy hoại rừng” theo điểm b khoản 1 Điều 243 BLHS 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo. HĐXX phúc thẩm thấy rằng, trong những năm gần đây tình trạng phá rừng làm nương rẫy diễn ra phức tạp, mặc dù chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng đã cố gắng áp dụng nhiều biện pháp tích cực, tuyên truyền, phổ biến pháp luật, tăng cường công tác bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường sống, nhưng tình trạng phá rừng, hủy hoại môi trường sinh thái vẫn diễn ra ngày càng phức tạp, tác động xấu đến hệ sinh thái rừng, xâm hại đến sự ổn định và bên vững của môi trường rừng, gây tác hại nghiêm trọng đến nguồn nước, khí hậu. Căn cứ vào khai nhận tội của bị cáo phù hợp với chứng cứ khách quan khác có trong hồ sơ vụ án, khi quyết định hình phạt cấp sơ thẩm đã cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo xử phạt bị cáo Rơ Ông K’Th 12 tháng tù tù là thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.

Khi quyết định hình phạt bản án sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo nhưng không xuất trình thêm chứng cứ tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới. Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Ý kiến của Viện kiểm sát là có căn cứ nên HĐXX chấp nhận.

Từ những nhận định trên HĐXX không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Rơ Ông K’Th, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Về án phí: Do không chấp nhận kháng cáo nên bị cáo Rơ Ông K’Th phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Rơ Ông K’Th. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2023/HS-ST ngày 04/01/2023 của Tòa án nhân dân huyện LD, tỉnh Lâm Đồng. Xử:

1. Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Rơ Ông K’Th phạm tội “Hủy hoại rừng”.

2. Về hình phạt:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 243; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Rơ Ông K’Th 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt để thi hành án.

3. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Bị cáo Rơ Ông K’Th phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không có kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, hết thời hạn kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ