vanban.org

Bản án 46/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Bà Thạch Ngọc T, sinh năm 2001 được ly hôn với ông Mai Thanh S, sinh năm 1996.

Về con chung: Sau khi ly hôn, bà Thạch Ngọc T được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Mai Thanh S1, giới tính: Nam, sinh ngày 23-11-2017 và cháu Mai Thanh T1, giới tính: Nam, sinh ngày 25-4-2020. Ông Mai Thanh S không cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn, ông Mai Thanh S có quyền và nghĩa vụ thăm … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Bà Thạch Ngọc T, sinh năm 2001 được ly hôn với ông Mai Thanh S, sinh năm 1996.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 13-6-2023.
V/v tranh chấp ly hôn,
nuôi con khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Phước Tài.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đào Khel

2. Ông Dư Văn Thanh

Thư ký phiên tòa: Bà Văn Ngọc Hân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thúy Trang - Kiểm sát viên.

Trong ngày 13 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình số: 23/2023/TLST-HNGĐ ngày 30/01/2023 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Thạch Ngọc T, sinh năm 2001 (có mặt).

Địa chỉ: Số C, đường N, khóm C, phường I, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.

- Bị đơn: Ông Mai Thanh S, sinh năm 1996 (vắng mặt).

Địa chỉ: Số B, đường K, khóm D, phường H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Thạch Ngọc T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Thạch Ngọc T và ông Mai Thanh S tự nguyện sống chung, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 19, ngày 14/02/2022. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn không khắc phục được do bất đồng quan điểm dẫn đến thường xuyên gây tranh cãi, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng không hàn gắn được. Từ tháng 3/2022 cho đến nay, bà T và ông S không còn sống chung như vợ chồng.

Về con chung: Trong thời gian chung sống, bà T và ông S có hai người con chung tên Mai Thanh S1, (giới tính: Nam) sinh ngày 23/11/2017 và Mai Thanh T1, (giới tính: Nam) sinh ngày 25/4/2020. Hiện nay, cháu S1 và cháu T1 đang sống cùng bà T.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Nay bà Thạch Ngọc T yêu cầu Tòa án giải quyết:

Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu ly hôn với ông Mai Thanh S.

Về con chung: Sau khi ly hôn bà T yêu cầu được nuôi hai người con chung là Mai Thanh S1 và Mai Thanh T1 đến tuổi trưởng thành. Không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu.

Trong quá trình giải quyết vụ án phía bị đơn là ông Mai Thanh S đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, nhưng bị đơn không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án cũng đã triệu tập hợp lệ bị đơn để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, cũng như tham gia phiên Tòa, nhưng bị đơn đều vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa hôm nay, vị đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước khi Hội đồng xét xử tiến hành nghị án, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự về trình tự, thủ tục tố tụng. Đối với những người tham gia tố tụng thì trước và tại phiên tòa hôm nay chấp hành đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa sơ thẩm Hội đồng xét xử, thư ký thực hiện đúng trình tự thủ tục tại phiên tòa. Đối với bị đơn ông Mai Thanh S đã không chấp hành việc có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án.

Về nội dung, Vị đại diện Viện kiểm sát nêu quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.

Về sự vắng mặt của bị đơn ông Mai Thanh S, xét thấy: Bị đơn ông S đã được Toà án tống đạt các văn bản tố tụng là quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên toà theo trình tự thủ tục tố tụng, nhưng ông S vẫn không có mặt tại phiên toà. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn.

Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu ly hôn với ông Mai Thanh S. Thấy rằng: Bà Thạch Ngọc T và ông Mai Thanh S tự nguyện sống chung, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng vào ngày 14-02-2022. Nên hôn nhân giữa bà T và ông S là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng thiếu sự tôn trọng nhau, thường xuyên tranh cãi làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập ông S đến làm việc và hòa giải nhưng ông S không đến cũng như không có văn bản trình bày ý kiến, chứng tỏ ông S không thiện chí muốn hòa giải mâu thuẫn giữa hai vợ chồng để quay về đoàn tụ. Xét thấy, những mâu thuẫn trên thể hiện được tình trạng hôn nhân của bà T và ông S đã đến mức trầm trọng, không thể hàn gắn được; hiện nay ông bà không còn sống chung với nhau như vợ chồng, thể hiện được cuộc sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, ông bà không còn thương yêu, chăm sóc lẫn nhau, không cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc làm cho mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T.

Về con chung: Xét yêu cầu nuôi con sau khi ly hôn của nguyên đơn bà T. Thấy rằng, cháu Mai Thanh S1, (giới tính: Nam) sinh ngày 23/11/2017 và Mai Thanh T1, (giới tính: Nam) sinh ngày 25/4/2020 hiện nay, đang sinh sống ổn định với bà T và cháu sức khỏe vẫn tốt, cuộc sống ổn định. Do đó, để đảm bảo quyền lợi của cháu S1 và cháu T1, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà T. Sau khi ly hôn, bà T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Mai Thanh S1, giới tính: Nam, sinh ngày 23-11-2017 và cháu Mai Thanh T1, giới tính: Nam, sinh ngày 25-4-2020.

Về việc cấp dưỡng nuôi con: Cháu Mai Thanh S1, sinh ngày 23/11/2017 và Mai Thanh T1, sinh ngày 25/4/2020 đang sống cùng bà T, hiện nay cuộc sống ổn định. Trong quá trình giải quyết vụ án phía bà T không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, bà T có đủ điều kiện về kinh tế để đảm bảo nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét việc cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, ông S có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung là cháu Mai Thanh S1, giới tính: Nam, sinh ngày 23-11-2017 và cháu Mai Thanh T1, giới tính: N, sinh ngày 25-4-2020 không ai được cản trở.

Về tài sản chung, nợ chung: Theo bà T trình bày trong thời kỳ hôn nhân giữa bà và ông S không có tạo lập tài sản chung cũng như không có nợ chung, cho nên Toà án không đặt ra xem xét giải quyết.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà hôm nay là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bà Thạch Ngọc T phải chịu số tiền 300.000 đồng án phí ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ: Khoản 1 Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ: Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Thạch Ngọc T, sinh năm 2001 được ly hôn với ông Mai Thanh S, sinh năm 1996.

2. Về con chung: Sau khi ly hôn, bà Thạch Ngọc T được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Mai Thanh S1, giới tính: Nam, sinh ngày 23-11-2017 và cháu Mai Thanh T1, giới tính: Nam, sinh ngày 25-4-2020. Ông Mai Thanh S không cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, ông Mai Thanh S có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung là cháu Mai Thanh S1 và cháu Mai Thanh T1 không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.

4. Về nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.

5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Thạch Ngọc T phải chịu là 300.000 đồng; Sau khi cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000937 ngày 09/01/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng, bà T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

6. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung), thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung); Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung).

Cỡ chữ