vanban.org

Bản án 46/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Danh Thị T và anh Lê Thanh T1.

Về con chung: Giao 02 người con chung tên Lê Thanh T 2, sinh ngày 27/01/2012 và Lê Thanh T3, sinh ngày 23/4/2014 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. chị T không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con. anh T1 được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở. Người k… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Tím và anh Tuấn ly hôn do mâu thuẫn gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Danh Thị T và anh Lê Thanh T1.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ R G
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 09/5/2023
V/v: “Ly hôn giữa chị T và anh T1”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ R G, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Bùi Tấn Nghĩa.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Quốc Hoàng.

2. Bà Chung Kim Sang.

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố R G.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố R G tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hồng - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 5 năm 2023, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân thành phố R G xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 386/2022/TLST-HNGĐ, ngày 07 tháng 11 năm 2022, về việc: “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2023/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Danh Thị T, sinh năm 1991; Địa chỉ: Tổ 8, khu phố 1, phường V T, thành phố R G, tỉnh Kiên Giang. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Anh Lê Thanh T1, sinh năm 1984; Địa chỉ: Tổ 8, khu phố 1, phường V T, thành phố R G, tỉnh Kiên Giang. (Vắng mặt lần thứ 2).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 03/10/2022 và trong quá trình tố tụng nguyên đơn chị Danh Thị T thể hiện ý kiến và quan điểm: chị T và anh T1 tự nguyện quen nhau, đi đến tổ chức lễ cưới và chung sống vợ chồng vào năm 2011, có đăng ký kết hôn và được UBND phường V T, thành phố R G, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 130/2013 ngày 11/11/2013.

Lý do chị T yêu cầu xin ly hôn: chị T cho rằng, do quá trình chung sống tính tình đôi bên không hợp, bất đồng quan điểm, bất đồng ý kiến do anh T1 thường bỏ nhà đi, sống thiếu trách nhiệm với vợ con, nhiều lần xúc phạm đến chị T; vợ chồng thiếu thông cảm, quan tâm, chăm sóc cho nhau. Cả hai đã nhiều lần hòa giải hàn gắn nhưng không mang lại kết quả mà mâu thuẫn ngày càng trầm trọng thêm; đôi bên đã tự ly thân với nhau từ tháng 04/2021 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nhận thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chị T làm đơn xin ly hôn với anh T1.

Về con chung: chị T xác nhận có 02 người con chung tên Lê Thanh T 2, sinh ngày 27/01/2012 và Lê Thanh T3, sinh ngày 23/4/2014.

Về tài sản chung và nợ chung: chị T xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Quá trình tố tụng chị T yêu cầu:

Về hôn nhân: chị T yêu cầu được ly hôn với anh T1.

Về con chung: chị T yêu cầu được nuôi 02 người con tên Lê Thanh T 2, sinh ngày 27/01/2012 và Lê Thanh T3, sinh ngày 23/4/2014, không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: chị T xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Lê Thanh T1 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, không có văn bản trình bày ý kiến.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố R G phát biểu ý kiến:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án thời điểm này thấy rằng Thẩm phán về cơ bản đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên toà hôm nay, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm, đảm bảo tính khách quan của vụ án.

Đối với những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng về quyền và nghĩa vụ khi tham gia tố tụng. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập, thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng của vụ án nhưng vẫn vắng mặt và không có ý kiến là chưa thực hiện đúng nghĩa vụ của mình.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng áp dụng Điều 91, 94, 95 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 9, 51, 56, 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn, nuôi con chung của chị Danh Thị T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Toà án đã thực hiện đầy đủ trình tự, thủ tục theo quy định Bộ luật tố tụng dân sự như tống đạt: Thông báo thụ lý; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa; Giấy báo phiên toà hợp lệ, nhưng bị đơn anh T1 vắng mặt. Nguyên đơn chị T vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử thống nhất xử vắng mặt nguyên đơn chị Danh Thị T và bị đơn anh Lê Thanh T1.

Nhận định về quan hệ hôn nhân: chị T và anh T1 tự nguyện quen nhau, đi đến tổ chức lễ cưới và chung sống vợ chồng vào năm 2013, có đăng ký kết hôn và được UBND phường V T, thành phố R G, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 11/11/2013. Căn cứ Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình, quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh T1 được xác định là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị T, Hội đồng xét xử xét thấy: Vợ chồng chị T, anh T1 không còn thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau để cùng xây dựng mái ấm gia đình bền vững và hạnh phúc; xuất phát từ việc tính tình đôi bên không hòa hợp, bất đồng quan điểm, bất đồng ý kiến, vợ chồng thường hay cự cải, xúc phạm nhau; vợ chồng không còn tin tưởng, thông cảm, quan tâm và chia sẻ với nhau trong cuộc sống. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện đầy đủ trình tự, thủ tục để hòa giải hôn nhân và gia đình nhưng anh T1 cố tình lánh mặt không đến Tòa án, điều đó cho thấy anh T1 cũng không có mong muốn trong việc hàn gắn lại tình cảm với chị T; đôi bên cũng đã ly thân với nhau từ năm 2021 cho đến nay. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh T1 đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Trong phần nghị án Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T được ly hôn với anh T1.

Về con chung: Có 02 người con chung tên Lê Thanh T 2, sinh ngày 27/01/2012 và Lê Thanh T3, sinh ngày 23/4/2014, hiện đang sống với chị T. Tại bản trình bày nguyện vọng ngày 01/3/2023 - 02 người con tên Lê Thanh T 2 và Lê Thanh T3 thể hiện nguyện vọng muốn được sống với mẹ là chị T.

Xét thấy, quá trình trông nom, nuôi dưỡng các con chung, chị T đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của người mẹ đối với con; đảm bảo được quyền, lợi ích hợp pháp của con. Do đó, để đảm bảo môi trường sống, sự phát triển, quyền lợi mọi mặt, cũng như tôn trọng nguyện vọng của những người con chung. Trong phần nghị án, Hội đồng xét xử thống nhất: Giao 02 người con chung tên Lê Thanh T 2, sinh ngày 27/01/2012 và Lê Thanh T3, sinh ngày 23/4/2014 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng là hoàn toàn phù hợp. Do chị T không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: chị T xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do suốt quá trình tố tụng và tại phiên tòa, anh T1 vắng mặt, không có văn bản thể hiện ý kiến đối với tài sản chung và nợ chung của vợ chồng. Trường hợp, anh T1 có tranh chấp về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng thì sẽ khởi kiện thành vụ kiện khác.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: chị T phải chịu án phí số tiền 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 28; khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Danh Thị T và anh Lê Thanh T1.

2. Về con chung: Giao 02 người con chung tên Lê Thanh T 2, sinh ngày 27/01/2012 và Lê Thanh T3, sinh ngày 23/4/2014 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. chị T không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con.

anh T1 được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về tài sản chung, nợ chung: chị T xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Trường hợp, anh T1 có tranh chấp về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng thì sẽ khởi kiện thành vụ kiện khác.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm ly hôn: chị T phải nộp 300.000 đồng. chị T đã tạm nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002479, ngày 03/10/2022 tại chi cục Thi hành án Dân sự thành phố R G, nên chị T được khấu trừ.

5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ