vanban.org

Bản án 46/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5- Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về quy định mức thu, miễn, giảm,thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Anh T. Chị Nguyễn Thị Anh T được ly hôn anh Cao Trọng Tiến T1. Về con chung: Giao con chung là cháu Cao Linh Đ sinh ngày 16/02/2021 cho chị Nguyễn Thị Anh T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Chị T không … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị Nguyễn Thị Anh T xin ly hôn anh Cao Trọng Tiến T1"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5- Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về quy định mức thu, miễn, giảm,thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Luật Hôn nhân và gia đình; Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THƢỜNG TÍN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 11/12/2023
V/v tranh chấp: Ly hôn

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THƢỜNG TÍN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thu Hiền

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lương Văn Hùng

Ông Nguyễn Đăng Bôi

Thƣ ký phiên toà: Bà Đặng Thị Thanh Huyền – Thư ký Toà án nhân dân huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thƣờng Tín tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Toàn- Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 213/2023/TLST-HNGĐ ngày 02/10/2023 về tranh chấp "Ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2023/QĐXX-ST ngày 24 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Anh T– sinh năm 2003 có mặt)

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn Hướng D, xã Thắng L, huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội.

Hiện trú tại: xóm Phong H, xã Nghi X, huyện Nghi L1, tỉnh Nghệ An

- Bị đơn: Anh Cao Trọng Tiến T1 - sinh năm 1998 (có đơn xét xử vắng mặt)

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn Hướng D, xã Thắng L, huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội.

Hiện đang chấp hành án tại phân trại số 01- Trại giam Ninh K, xã Ninh V, huyện Hoa L2, tỉnh Ninh Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 29/8/2023 và các văn bản tiếp theo, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Anh T trình bày:

Chị và anh Cao Trọng Tiến T1 được tự do tự nguyện tìm hiểu và về chung sống vợ chồng có đăng ký kết hôn tại UBND xã Thắng L, huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội ngày 24/3/2021. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại nhà bố mẹ chồng chị tại thôn Hướng D, xã Thắng L, huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội. Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, cuộc sống không hòa hợp, hạnh phúc. Tháng 8 năm 2022, anh Thành bị bắt tạm giam và tháng 12 năm 2022, bị Tòa án nhân dân huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội kết án 08 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và hiện đang chấp hành án tại trại giam Ninh K, tỉnh Ninh Bình. Thực tế trước khi anh Thành bị bắt thì vợ chồng đã sống ly thân không quan tâm đến nhau. Bản thân chị không còn tình cảm với anh Thành và đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng chị có một con chung là cháu Cao Linh Đ, sinh ngày 16/02/2021. Trước thời điểm đăng ký kết hôn thì chị và anh Thành chung sống như vợ chồng và có thai cháu Cao Linh Đ, sau khi đăng ký kết hôn một tháng sau thì chị sinh con, cháu Đ là con chung của chị và anh Thành. Chị yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh Thành cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện chị bán hàng qua mạng xã hội, có thu nhập trung bình khoảng 6.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng/ 01 tháng và có chỗ ở ổn định đảm bảo điều kiện nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: vợ chồng chị không tranh chấp gì về tài sản chung, nợ chung và chị T không yêu cầu Tòa án xem xét.

Bị đơn là anh Cao Trọng Tiến T1 có lời khai như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị Anh T về chung sống vợ chồng có đăng ký kết hôn tại UBND xã Thắng L, huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội như chị T khai là đúng. Vợ chồng sau khi kết hôn sống tại nhà bố mẹ anh tại thôn Hướng D, xã Thắng L, huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội. Vợ chồng chung sống không hạnh phúc, thường xuyên cãi vã, mâu thuẫn. Cuối năm 2021, vợ chồng sống ly thân không quan tâm đến nhau. Tháng 12 năm 2022, anh bị Tòa án nhân dân huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội kết án phạt tù 08 năm 06 tháng về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, hiện anh đang chấp hành án tại giam Ninh K, tỉnh Ninh Bình. Từ thời điểm cuối năm 2021 đến khi anh bị bắt tạm giam và đi chấp hành án chị T không thăm hỏi, vợ chồng không liên lạc, gặp gỡ nhau. Anh T1 đồng ý ly hôn với chị Tâm.

Về con chung: Vợ chồng anh chị có một con chung là cháu Cao Linh Đ, sinh ngày 16/02/2021. Anh T1 có nguyện vọng mong muốn được nuôi con tuy nhiên do anh đang chấp hành án nên không đủ điều kiện nuôi dưỡng con chung, anh T1 đồng ý giao con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục.

Về tài sản chung, nợ chung: anh T1 và chị T không tranh chấp về tài sản, công nợ chung và không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Tại phiên toà:

+Chị T vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày.

+Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Tín có quan điểm:

-Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng; Nguyên đơn và bị đơn chấp hành đúng quyền nghĩa vụ theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

-Về nội dung: chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Anh Tđược ly hôn anh Cao Trọng Tiến T1. Về con chung: Giao con chung là cháu Cao Linh Đ sinh ngày 16/02/2021 cho chị Nguyễn Thị Anh T trực tiếp nuôi dưỡng giáo dục đến khi trưởng thành 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Anh T1 có quyền nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đến khi đương sự có đơn yêu cầu hoặc có sự thay đổi khác. Về tài sản chung, nợ chung, các bên đương sự không yêu cầu nên không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của các bên đương sự và của Đại diện Viện Kiểm sát; sau khi nghị án, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, quan điểm của bị đơn, xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật giải quyết của vụ án là “Tranh chấp ly hôn” quy định tại khoản 1 Điều 28- Bộ luật tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39- Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về thủ tục tố tụng: Anh Cao Trọng Tiến T1 đang chấp hành án tại trại giam Ninh K và có đơn xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử vắng mặt anh T là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 227- Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Anh T và anh Cao Trọng Tiến T1 kết hôn trên cơ sở tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 24/3/2021 tại UBND xã Thắng L, huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội. Như vậy, hôn nhân của anh chị là hợp pháp theo luật Hôn nhân gia đình năm 2014. Qua lời khai của các đương sự, xác minh tại gia đình, địa phương nơi anh chị chung sống và các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án thể hiện cuộc sống vợ chồng giữa chị Tâm và anh Thành có nhiều mâu thuẫn. Thực tế chị T và anh T1 đã sống ly thân, mỗi người sống một nơi trước khi anh T1 bị bắt tạm giam về hành vi phạm tội. Tháng 12 năm 2022, anh T1 bị Tòa án nhân dân huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội kết án phạt tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Sau khi anh T1 đi chấp hành án thì chị Tâm thừa nhận chưa lần nào vào thăm hỏi anh Thành. Anh T1 có quan điểm đồng ý ly hôn với chị T vì xác nhận vợ chồng mâu thuẫn nhiều năm, không hòa hợp. Tại phiên tòa, chị T vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn. Như vậy, thể hiện cuộc sống hôn nhân của anh chị không hạnh phúc, các bên không thực hiện quyền nghĩa vụ vợ chồng với nhau, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của chị T là có cơ sở chấp nhận. Căn cứ vào các Điều 51, 56 - Luật hôn nhân và gia đình 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Anh T được ly hôn anh Cao Trọng Tiến T1.

Về con chung: Vợ chồng anh chị có một con chung là cháu Cao Linh Đ sinh ngày 16/02/2021. Xét thấy, anh T1 đang chấp hành phạt tù, không đủ điều kiện nuôi con, cháu Cao Linh Đ còn nhỏ chưa đủ 36 tháng tuổi cần sự chăm sóc của mẹ nên giao con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Do đó để đảm bảo việc chăm sóc giáo dục tốt nhất cho con chung anh chị, Hội đồng xét xử giao cháu Cao Linh Đcho chị Nguyễn Thị Anh T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Chị T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét. Anh T1 có quyền nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị T, anh T1 không tranh chấp và không yêu cầu xem xét nên Hội đồng xét xử không xét. Trường hợp các bên có yêu cầu và phát sinh tranh chấp thì dành quyền khởi kiện cho các đương sự bằng một vụ án khác.

Về án phí: Chị T phải chịu án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 147 - Bộ luật tố tụng dân sự 2015 và điểm a khoản 5- Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm,thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 271, 273 - Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; Điều 271; Điều 273 - Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 - Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Điều 26- Luật thi hành án dân sự năm 2008.

- Điểm a khoản 5- Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về quy định mức thu, miễn, giảm,thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Anh T. Chị Nguyễn Thị Anh T được ly hôn anh Cao Trọng Tiến T1.

2. Về con chung: Giao con chung là cháu Cao Linh Đ sinh ngày 16/02/2021 cho chị Nguyễn Thị Anh T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Chị T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét. Anh Cao Trọng Tiến T1 có quyền nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị T, anh T1 không tranh chấp và không yêu cầu xem xét nên Hội đồng xét xử không xét. Trường hợp các bên có yêu cầu và phát sinh tranh chấp thì dành quyền khởi kiện cho các đương sự bằng một vụ án khác.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Anh T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp tại biên lai số AA/2020/0023470 ngày 27/9/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội. Chị T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Anh T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Anh Cao Trọng Tiến T1 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

6. Về việc thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định của tòa án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ