- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Lan O - Võ Khắc Q - T/C ly hôn"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Lan O.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 46/2023/HNGĐ-ST Ngày 07-6-2023 V/v tranh chấp “Ly hôn, nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Hữu Trí. Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Bá Lộc và bà Nguyễn Thị Di.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Long – Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 428/2022/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2022, về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Lan O, sinh năm 1988, vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
Hộ khẩu thường trú: Tổ F, ấp T, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Chỗ ở hiện nay: Tổ A, ấp A, xã A, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Bị đơn: Ông Võ Khắc Q, sinh năm 1989, vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
Hộ khẩu thường trú: Tổ A, ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Hiện đang chấp hành án phạt tù tại Đội 10 – Phân trại K3 – Trại giam X – Bộ C.
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, Biên bản không tiến hành được phiên họp và hòa giải, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Lan O trình bày:
Bà Nguyễn Thị Lan O và ông Võ Khắc Q tự nguyện chung sống vợ chồng với nhau và đăng ký kết hôn năm 2014. Đến năm 2018 vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cãi cọ và đã sống ly thân từ năm 2020 đến nay. Sau đó vợ chồng có nói chuyện hàn gắn tình cảm nhưng không được. Nay bà O nhận thấy không còn tình cảm, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau và không thể chung sống với ông Q được nữa. Vì vậy bà O yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Q.
Về con chung: Bà O và ông Q có 1 con chung là Võ Phúc An khang, sinh ngày 01/11/2013. Hiện nay cháu K đang ở với bà O. Bà O yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu K và không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà O không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Theo Bản tự khai ngày 17/5/2023, bị đơn ông Võ Khắc Q trình bày:
Ông Q và bà O kết hôn năm 2015, không tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn. Năm 2022, ông Q đi chấp hành án phạt tù thì bà O đòi ly hôn. Ông Q đồng ý ly hôn.
Về con chung: Bà O và ông Q có 1 con chung là Võ Phúc An khang, sinh ngày 01/11/2013. Ông đồng ý giao cháu K cho bà O trực tiếp nuôi dưỡng và ông không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông Q không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng. Nguyên đơn, bị đơn thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng.
Về nội dung: Đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà O: Bà O được ly hôn ông Q; Bà O được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và ông Q không phải cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung và nợ chung: Bà O và ông Q không yêu cầu giải quyết nên không xét đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng và quan hệ tranh chấp: Đây là vụ án tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35 và điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt nhưng đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định tại Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Bà O và ông Q tự nguyện chung sống, đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật là hôn nhân hợp pháp.
Về con chung: Bà O và ông Q xác nhận có 1 con chung là Võ Phúc An khang, sinh ngày 01/11/2013. Hiện nay cháu K đang ở với bà O. Bà O yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu K nên chấp nhận giao cháu K cho bà O trực tiếp nuôi dưỡng. Bà O không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con nên không xét đến.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà O và ông Q không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xét đến.
Về án phí: Bà O phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51; 56, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Lan O.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Lan O được ly hôn ông Võ Khắc Q.
- Về con chung: Giao con chung là Võ Phúc An k, sinh ngày 01/11/2013 cho bà Nguyễn Thị Lan O trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi. Ông Võ Khắc Q không phải cấp dưỡng nuôi con.
Ông Võ Khắc Q được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Lan O và ông Võ Khắc Q không yêu cầu giải quyết nên không xét đến.
2. Án phí: Áp dụng Nghị Quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bà Nguyễn Thị Lan O phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 09321 ngày 15/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Điền, bà O đã nộp xong.
3. Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai, đương sự có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh BR-VT; - VKSND huyện Long Điền; - THADS huyện Long Điền; - Các đương sự; - UBND xã Phước Tỉnh; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đỗ Hữu Trí |