vanban.org

Bản án 46/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Tuyết N.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Tuyết N được ly hôn với anh Võ Đình Ng. Về con chung: Các con chung là Võ Nguyên V, sinh năm 2000 và Võ Nguyên V1, sinh năm 2003 đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Tuyết N.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN EA H’LEO
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 16/6/2023
V/v: Kiện ly hôn, tranh chấp
nuôi con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H’LEO

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Quốc Hà

Các Hội thẩm nhân dân gồm có: Ông Ksơr Aflai

Ông Lê Ngọc Tuân

- Thư ký phiên toà: Ông Phan Việt Tiệp – Thư ký Toà án nhân dân huyện Ea H’Leo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Khánh – Kiểm sát viên.

Ngày 16/6/2023, tại phòng xử án - Toà án nhân dân huyện Ea H’leo, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 445/2022/TLST-HNGĐ ngày 09/11/2022 về việc: “Kiện ly hôn”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Tuyết N. Địa chỉ: Thôn 2a, xã EH, huyện E H, tỉnh Đắk Lắk, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Võ Đình Ng. Địa chỉ: Thôn 2a, xã EH, huyện EH, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt đến lần thứ hai không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Tuyết N trình bày:

Tôi và anh Võ Đình Ng tự nguyện chung sống với nhau từ năm 1999, đến năm 2003 mới đăng ký kết hôn tại UBND xã EH, huyện EH, tỉnh Đắk Lắk. Sau thời gian chung sống hạnh phúc thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, đến nay mâu thuẫn đã trầm trọng, không thể hàn gắn, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc. Nay tôi đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Ng.

Về con chung: Trong thời gian chung sống chúng tôi có hai con chung là cháu Võ Nguyên V, sinh năm 2000 và cháu Võ Nguyên V1, sinh năm 2003. Các cháu đã trưởng thành nên tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Chúng tôi tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa giải quyết.

* Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Võ Đình Ng trình bày: Tôi đồng ý với lời trình bày của cô N về quan hệ hôn nhân. Trong cuộc sống vợ chồng cũng xảy ra một số mâu thuẫn, tuy nhiên tôi vẫn còn tình cảm với vợ nên tôi không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Chúng tôi có hai con chung và các cháu đã trưởng thành, trên 18 tuổi.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’leo:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Về người tham gia tố tụng: Tòa án đã xác định đúng tư cách người tham gia tố tụng.

Việc thu thập chứng cứ, lấy lời khai của đương sự, việc cấp tống đạt các giấy tờ cho Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử chấp hành đầy đủ và đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình – Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Tuyết N; Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Tuyết N được ly hôn với anh Võ Đình Ng; Về con chung: Các con chung đã trưởng thành; Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Tuyết N và anh Võ Đình Ng tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử xét thấy:

Về thủ tục tố tụng: Xét yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Tuyết N đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh Võ Đình Ng là tranh chấp về Hôn nhân và gia đình, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ea H’Leo theo quy định tại Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét thấy, bị đơn anh Võ Đình Ng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt lần thứ hai, không có lý do. Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Tuyết N có đơn xin giải quyết vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Tuyết N và anh Võ Đình Ng chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện vào ngày 29/5/2003 tại UBND xã EH, huyện EH, tỉnh Đắk Lắk. Đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật.

Qua lời trình bày của chị N thì chị và anh Ng thường xuyên mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống. Nay chị N xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Ng; Anh Ng cho rằng trong cuộc sống vợ chồng có một số mâu thuẫn, anh vẫn còn tình cảm với chị N nên không đồng ý ly hôn.

Qua xác minh tại chính quyền địa phương nơi chị N và anh Ng sinh sống thì quá trình chung sống vợ chồng chị N và anh Ng cũng phát sinh mâu thuẫn. Vợ chồng chị N và anh Ng không còn chung sống với nhau từ đầu năm 2023 đến nay, nguyên nhân mâu thuẫn giữa hai vợ chồng thì chính quyền địa phương không nắm rõ. Nay chị N có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Ng, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Hội đồng xét xử xét thấy, giữa các bên không còn sự tôn trọng, tin tưởng lẫn nhau, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị N, cho chị N được ly hôn với anh Ng.

Về con chung: Trong thời gian chung sống chị N và anh Ng có hai người con chung là Võ Nguyên V, sinh năm 2000 và cháu Võ Nguyên V1, sinh năm 2003, các con chung đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung; nợ chung: Đương sự tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không đặt ra để xem xét.

Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên nguyên đơn chị Nguyễn Thị Tuyết N phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, khoản 3 Điều 81 và Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Tuyết N.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Tuyết N được ly hôn với anh Võ Đình Ng.

- Về con chung: Các con chung là Võ Nguyên V, sinh năm 2000 và Võ Nguyên V1, sinh năm 2003 đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung; nợ chung: Chị Nguyễn Thị Tuyết N và anh Võ Đình Ng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Tuyết N phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2021/0010784 ngày 31/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ea H’leo, tỉnh Đắk Lắk.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn; bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ