- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Huỳnh Châu P - Lâm Văn M -Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Các đương sự vắng mặt, được quyền kháng cáo bản án theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH LONG AN Bản án số: 46/2023/HNGĐ-ST Ngày: 29-9-2023 Về việc “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hùng Vương.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Tư;
2. Bà Nguyễn Thị Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Bé Đào - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An.
Ngày 29 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Đ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 129/2023/HNGD-ST ngày 04-7-2023 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Huỳnh Châu P - Sinh năm 1995 - Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện Đ, tỉnh Long An (Vắng mặt).
2. Bị đơn: Ông Lâm Văn M - Sinh năm 1987 - Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện Đ, tỉnh Long An (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện đề ngày 30-5-2023, các văn bản tiếp theo, nguyên đơn bà Huỳnh Châu P trình bày và yêu cầu:
Bà và ông Lâm Văn M cưới nhau năm 2011, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện Đ, tỉnh Long An ngày 06-8-2014; C sống hạnh phúc đến năm 2022 phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống và quản lý kinh tế. Hiện nay ông bà còn sống chung nhà, nhưng mâu thuẫn đã trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.
Về hôn nhân: Bà yêu cầu ly hôn với ông Lâm Văn M; Về nuôi con chung: Bà yêu cầu trực tiếp nuôi 02 con chung tên Lâm Nhựt H, sinh ngày 15-6-2013 và Lâm Tấn L, sinh ngày 08-10-2014 (hiện đang sống chung ông bà), yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 900.000 đồng/1 con chung, từ khi án có hiệu lực pháp luật đến khi từng con chung đủ 18 tuổi. Về chia tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
- Vụ án không hòa giải đoàn tụ được do bị đơn ông Lâm Văn M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt;
- Ngày 23-8-2023, bà Huỳnh Châu P có đơn xin giải quyết và xét xử vắng mặt;
- Bị đơn là ông Lâm Văn M vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do, nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Bà Huỳnh Châu P khởi kiện “Tranh chấp ly hôn” đối với ông Lâm Văn M; Tòa án nhân dân huyện Đ tỉnh Long An thụ lý giải quyết vụ án là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự. [2] Bà P có đơn xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; [3] Bị đơn là ông M được tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng của Tòa án, nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Hội đồng xét xử vụ án theo quy định tại khoản 3 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự. [4] Tại phiên tòa, nguyên đơn không có đơn rút yêu cầu khởi kiện, các đương sự không thỏa thuận được với nhau việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án. [5] Xét về hôn nhân: [5.1] Bà P và ông M chung sống có đăng ký kết hôn ngày 06-8-2014 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện Đ, tỉnh Long An. Quan hệ hôn nhân giữa bà P và ông M là hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình. [5.2] Xét yêu cầu ly hôn của bà P: Bà P cho rằng mâu thuẫn phát sinh từ năm 2022 do bất đồng quan điểm trong cuộc sống và quản lý kinh tế, tuy còn sống chung nhà, nhưng mâu thuẫn đã trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được Xét từ khi xảy ra mâu thuẫn và cho đến nay, bà P và ông M không khắc phục được mâu thuẫn gia đình, bà P và ông M mỗi người vẫn tự lo cho bản thân, không quan tâm chăm sóc nhau; ông M biết được việc bà P khởi kiện ly hôn nhưng vẫn không có ý kiến, không có mặt tham gia hòa giải đoàn tụ và vắng mặt tại phiên tòa, ông M không có ý chí đoàn tụ. Xét mâu thuẫn giữa bà P và ông M đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc bà P yêu cầu ly hôn là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên chấp nhận. Ông M không có ý kiến nên không có căn cứ xem xét.
Xét về nuôi con chung:
Xét việc yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con chung của bà P:
Xét con chung tên Lâm Nhựt H, sinh ngày 15-6-2013 và Lâm Tấn L, sinh ngày 08-10-2014, sống với bà P từ nhỏ đến nay, hiện con chung có nguyện vọng muốn tiếp tục sống chung với bà P, việc thay đổi người trực tiếp nuôi và môi trường sống sẽ ảnh hưởng đến việc chăm sóc con chung và sự phát triển bình thường về tâm lý, sinh lý của con chung. Do đó yêu cầu trực tiếp nuôi con chung của bà P là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình nên chấp nhận. Ông M không có ý kiến nên không có căn cứ xem xét.
Do con chung đang sống chung bà P và ông M, nên ông M có nghĩa vụ giao 02 con chung cho bà P trực tiếp nuôi từ khi án có hiệu lực pháp luật là phù hợp.
Xét về cấp dưỡng nuôi con:
Bà P yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con chung 900.000 đồng/tháng/1 con chung, thời gian cấp dưỡng từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi từng con chung đủ 18 tuổi. Bà P không đưa ra được tài liệu, chứng chứng minh về thu nhập cơ bản của ông M; Tuy nhiên, yêu cầu của bà P phù hợp với mức cấp dưỡng theo quy định của pháp luật bằng ½ mức lương tối thiểu, tại thời điểm xét xử, phù hợp theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân gia đình nên có căn cứ chấp nhận. Ông M không có ý kiến về việc cấp dưỡng nuôi con chung nên không có căn cứ xem xét.
Cần áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự 2015 trong việc tính lãi đối với các số tiền chậm thi hành án.
Ông M được quyền thăm nom, chăm sóc con chung; Khi cần thiết, vì lợi ích của con chung, bà P và ông M được quyền yêu cầu thay đổi tình trạng nuôi con chung và việc cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp theo quy định tại các Điều 83, 84, 107 và 110 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về chia tài sản chung và nợ chung: Bà P trình bày không có, không yêu cầu giải quyết, nên không đề cập. Ông M không có ý kiến nên không có căn cứ xem xét. Nếu xảy ra tranh chấp, các đương sự được quyền khởi kiện bằng vụ án khác theo pháp luật tố tụng dân sự là phù hợp quy định tại Điều 59 và Điều 60 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về án phí, căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xét thấy: Bà P là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp, bà P đã nộp đủ án phí; Ông M có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm; Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 147 và Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Các Điều 56, 59, 60, 81, 82, 83, 84, 107 và 110 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. 1. Về hôn nhân: Bà Huỳnh Châu P được ly hôn với ông Lâm Văn M. 2. Về nuôi con chung: 2.1. Bà Huỳnh Châu P được trực tiếp nuôi con chung tên Lâm Nhựt H, sinh ngày 15-6-2013 và Lâm Tấn L, sinh ngày 08-10-2014 (đang sống với bà P và ông M); Ông Lâm Văn M có nghĩa vụ giao 02 con chung cho bà Huỳnh Châu P trực tiếp nuôi từ khi án có hiệu lực pháp luật. 2.2. Ông Lâm Văn M có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con chung mỗi tháng 900.000 đồng/1 con chung, thời gian cấp dưỡng từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi từng con chung đủ 18 tuổi. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền (Phải trả cho người được thi hành án), hàng tháng, người phải thi hành án còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự 2015. 2.3. Ông M được quyền thăm nom, chăm sóc con chung; Khi cần thiết, vì lợi ích của con chung, bà P và ông M được quyền yêu cầu thay đổi tình trạng nuôi con chung và việc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình. 3. Về chia tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết. 4. Về án phí: Bà Huỳnh Châu P phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu số 0003419 ngày 04-7-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Huệ, bà P đã nộp đủ án phí. Ông Lâm Văn M phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
5. Các đương sự vắng mặt, được quyền kháng cáo bản án theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Long An; - VKSND huyện Đ; - Chi cục THADS huyện Đ; - UBND xã B (để ghi sổ hộ tịch); - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ, án văn. | Nguyễn Hùng Vương |