vanban.org

Bản án 46/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của QTDHT đối với bà TTTT, ông TVD.

Buộc bà TTTT, ông TVD có nghĩa vụ thanh toán cho QTDHT số tiền nợ gốc 3.070.000 đồng, tiền lãi tạm tính đến ngày 31/5/2023 là 1.466.600 đồng, tổng cộng là 4.536.600 đồng (Bốn triệu, năm trăm, ba mươi sáu nghìn, sáu trăm đồng). Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm, nếu ông D, bà T chưa thanh toán… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Buộc bà TTTT, ông TVD có nghĩa vụ thanh toán cho QTDHT số tiền nợ gốc 3.070.000 đồng, tiền lãi tạm tính đến ngày 31/5/2023 là 1.466.600 đồng…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của QTDHT đối với bà TTTT, ông TVD.
  • Căn cứ chính? Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 466 Bộ luật Dân sự; Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ HÒA THÀNH
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2023/DS-ST
Ngày: 31/5/2023
V/v “Tranh chấp về hợp đồng
tín dụng”
NINH

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HÒA THÀNH, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thùy Trang.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Bùi Dân An;

2. Ông Trần Văn Thạch.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Kim Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành tham gia phiên tòa: Ông Bùi Quốc Việt – Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 275/2022/TLST-DS ngày 13 tháng 12 năm 2022 về việc “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2023/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 4 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 20/2023/QĐST-DS ngày 10 tháng 5 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: QTDHT;

Địa chỉ: số 30 đường Hùng Vương, khu phố 1, phường Long Hoa, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Huỳnh Kim Thủy – Chủ tich Hội đồng quản trị.

Người đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Thiện Chí – giám đốc QTDHT (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Bị đơn: Bà TTTT, sinh năm 1976; Ông TVD, sinh năm 1966.

Cùng địa chỉ: Số nhà A10/2E, khu phố A, phường B, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Thiện Chí trình bày:

Ngày 15/9/2020, QTDHT và bà TTTT, ông TVD có ký hợp đồng tín dụng số 200820/HĐTD, số tiền vay gốc 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng), trong hợp đồng có nêu rõ tiền lãi và thời gian thực hiện hợp đồng.

Quá trình thực hiện hợp đồng, bà T, ông D có trả tiền vay gốc là 6.930.000 đồng và tiền lãi là 990.000 đồng, còn nợ lại tính đến ngày 31/5/2023 số tiền gốc là 3.070.000 đồng, tiền lãi là 1.466.600 đồng, tổng tiền còn nợ 4.536.600 đồng (Bốn triệu, năm trăm, ba mươi sáu nghìn, sáu trăm đồng).

Nay Tòa QTDHT yêu cầu bà TTTT, ông TVD trả số tiền 4.536.600 đồng (Bốn triệu, năm trăm, ba mươi sáu nghìn, sáu trăm đồng) và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng đã ký kết giữa các bên.

* Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn – bà TTTT, ông TVD đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án để làm việc, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, không tham gia phiên tòa.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng; bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn là có căn cứ theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các Điều 91, 95 của Luật Các tổ chức tín dụng và Nghị quyết 326 về án phí, lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của QTDHT, buộc ông D, bà T phải thanh toán nợ cho QTDHT số tiền nợ gốc là 3.070.000 đồng, tiền lãi 1.466.600 đồng, tổng cộng 4.536.600 đồng (Bốn triệu, năm trăm, ba mươi sáu nghìn, sáu trăm đồng) và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng đã ký kết giữa các bên; xác định nghĩa vụ chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Thiện Chí có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và bị đơn bà TTTT, ông TVD vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các bên đương sự là phù hợp theo quy định tại các Điều 227, 228 và 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, thấy rằng:

Quá trình giải quyết vụ án, ông D, bà T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không đến Tòa làm việc, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn. Do đó, Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết vụ án là phù hợp với quy định pháp luật.

Căn cứ hợp đồng tín dụng số 200820/HĐTD ngày 15/9/2020 được ký kết giữa QTDHT và vợ chồng bà TTTT, ông TVD. Theo đó, vợ chồng ông D, bà T vay số tiền gốc 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng). Quá trình thực hiện hợp đồng, bà T, ông D có trả tiền vay gốc là 6.930.000 đồng và tiền lãi là 990.000 đồng, còn nợ lại số tiền tính đến ngày 31/5/2023 tổng cộng là 4.536.600 đồng (Bốn triệu, năm trăm, ba mươi sáu nghìn, sáu trăm đồng), trong đó nợ gốc là 3.070.000 đồng, tiền lãi là 1.466.600 đồng.

Do đó, QTDHT yêu cầu ông D, bà T có trách nhiệm trả tiền nợ gốc 3.070.000 đồng, tiền lãi tạm tính đến ngày 31/5/2023 là 1.466.600 đồng, tổng cộng là 4.536.600 đồng (Bốn triệu, năm trăm, ba mươi sáu nghìn, sáu trăm đồng) và lãi suất phát sinh do các bên thỏa thuận theo hợp đồng đã ký kết là phù hợp nên được chấp nhận.

Về án phí: Theo quy định tại Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì ông D, bà T phải chịu án phí là 300.000 đồng.

Các đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh về việc giải quyết vụ án là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 466 của Bộ luật Dân sự; các Điều 91, 95 của Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của QTDHT đối với bà TTTT, ông TVD.

Buộc bà TTTT, ông TVD có nghĩa vụ thanh toán cho QTDHT số tiền nợ gốc 3.070.000 đồng, tiền lãi tạm tính đến ngày 31/5/2023 là 1.466.600 đồng, tổng cộng là 4.536.600 đồng (Bốn triệu, năm trăm, ba mươi sáu nghìn, sáu trăm đồng).

Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm, nếu ông D, bà T chưa thanh toán số tiền nêu trên thì ông D, bà T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận theo điều khoản hợp đồng đã ký kết cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà TTTT, ông TVD phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Hoàn trả cho QTDHT số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0021163 ngày 13 tháng 12 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án tống đạt hợp lệ.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ