- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T - Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1/ Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆNGÒ DẦU TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:46/2022/HSST Ngày: 26-5-2022. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆNGÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Trần Thanh Vũ.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thanh Văn
2. Bà Trần Thị Đào
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Anh Thư – Thưký Toà án nhân dân huyệnGò Dầu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyệnGò Dầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Thành Danh– Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyệnGò Dầu, tỉnh Tây Ninh,xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 30/2022/HSST ngày 28 tháng 3 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2022/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 4 năm 2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T, tên gọi khác: Không có, sinh năm 1978, tại tỉnh Bình Dương, nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú hiện nay: đường Huỳnh Văn L, khu phố S, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương;nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ học vấn:3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hưng L và bà Lê Thị R (đã chết); vợ: Nguyễn Hồng H, sinh năm 1983 (đã ly hôn), con: 02 người, sinh năm 2000 và sinh năm 2004; tiền án, tiền sự: Không có. Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 28/3/2022 đến ngày 06/4/2022 được thay đổi biện pháp tạm giam bằng biện pháp bảo lĩnh. Bịcáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 5/2020, Nguyễn Thành D và Lê Thành S tổ chức sòng tài xỉu cho các đối tượng đến đánh tài xỉu thắng thua bằng tiền để thu tiền xâu. D và S thỏa thuận với người làm cái là khi cái bảo phải chia cho D và S 50% số tiền thắng cược. Để tránh bị phát hiện D và S liên tục thay đổi địa điểm đánh bạc, đồng thời thuê Phan Ngọc H làm nhiệm vụ thu tiền xâu; thuê Phạm Văn N, Phạm Tấn L, Đặng Hoài N, Nguyễn Văn R, Nguyễn Hồng C, Nguyễn Văn T, Huỳnh Minh T và Nguyễn Văn P làm nhiệm vụ canh đường và chở các đối tượng đánh bạc vào sòng tài xỉu với tiền công mỗi người là 300.000 đồng/ ngày. Để lôi kéo các đối tượng bạc đến đánh tài xỉu, D và S trực tiếp liên lạc bằng điện thoại và thỏa thuận với Phạm Văn T, Phạm Tuấn V, Đặng Thị Kim L, Nguyễn Thị T và Nguyễn Thị Thanh X để dẫn các đối tượng đánh bạc đến sòng tài xỉu thì được trả tiền công từ 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng, trong đó bao gồm tiền thuê xe từ 800.000 đồng đến 1.000.000 đồng, số tiền còn lại thì các đối tượng này được hưởng. Khoảng 12 giờ ngày 31/5/2020, sau khi liên hệ với H, L, T, N, R, C, H1 N, Ti và P đến vườn cây cao su thuộc ấp B, xã T, huyện Gđể chuẩn bị tổ chức đánh tài xỉu thì D và S thông báo cho T, V, L, T1, X biết địa điểm tổ chức đánh bạc để đưa các đối tượng đánh bạc đến đánh bạc. Trong đó, Phạm Văn T, Phạm Tuấn V dẫn Vũ Trọng M và Nguyễn Văn T1 đến sòng tài xỉu để làm cái nhưng Phạm Văn T và Phạm Tuấn V chưa nhận tiền công; Đặng Thị Kim L dẫn Nguyễn Mạnh H, Phạm Thị H1 và Nguyễn Thị Ánh H2 đến sòng tài xỉu, L chưa nhận tiền công; Nguyễn Thị T dẫn Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị P và Nguyễn Trung G đến sòng tài xỉu, T chưa nhận tiền công; Nguyễn Thị Thanh X dẫn Nguyễn Thị Kim A, Đặng Thanh L, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Thị Hvà Nguyễn Thị T đến sòng tài xỉu thì X nhận tiền công 1.000.000 đồng từ D. D và S tổ chức 02 ca lắc tài xỉu cho các đối tượng tham gia đặt cược. Cụ thể:
Ca thứ nhất: Nguyễn Thị Ch và Trần Thị Nhật L sử dụng số tiền 100.000.000 đồng để làm cái lắc tài xỉu, trong đó Ch trực tiếp lắc còn L chung chi tiền thắng thua. Những người tham gia đặt tiền gồm: Nguyễn Xuân T sử dụng 500.000 đồng, Nguyễn Thị Ánh H sử dụng 400.000 đồng, Nguyễn Minh Tr sử dụng 10.500.000 đồng, Nguyễn Thị Th sử dụng 1.600.000 đồng, Nguyễn Thị H sử dụng 200.000 đồng, Nguyễn Thị Kim A sử dụng 600.000 đồng, Nguyễn Văn Đ sử dụng 2.000.000 đồng, Đặng Thanh L sử dụng 5.000.000 đồng, Nguyễn Thị Thanh X sử dụng 500.000 đồng, Nguyễn Thị H sử dụng 1.000.000 đồng, Lê Minh Trường G sử dụng 5.500.000 đồng, Nguyễn Minh T sử dụng 1.550.000 đồng, Dương Văn T sử dụng 800.000 đồng, Nguyễn Thị X sử dụng 2.800.000 đồng và Lê Thị T sử dụng 1.000.000 đồng tham gia đặt cược. C và L mỗi ván đặt cao nhất 10.000.000 đồng và làm cái khoảng 01 giờ thì nghỉ, thắng được 60.000.000 đồng, H thu tiền xâu của Ch được 2.000.000 đồng.
Ca thứ hai: Vũ Trọng M và Nguyễn Văn T sử dụng số tiền 30.000.000 đồng làm cái lắc tài xỉu cho Nguyễn Trung G sử dụng 1.300.000 đồng, Nguyễn Thị P sử dụng 2.120.000 đồng, Hoàng Kim O sử dụng 600.000 đồng, Phạm Văn C sử dụng 1.100.000 đồng, Nguyễn Mạnh H sử dụng 2.500.000 đồng, Nguyễn Văn C sử dụng 700.000 đồng, Phan Thị N sử dụng 2.000.000 đồng, Hồ Trung T sử dụng 800.000 đồng, Nguyễn Thị H sử dụng 300.000 đồng, Nguyễn Thị T sử dụng 2.000.000 đồng, Hoàng Thị Thu H sử dụng 500.000 đồng, Đào Thị L sử dụng 600.000 đồng, Phạm Thị T sử dụng 1.000.000 đồng, Hoàng Kim T sử dụng 1.200.000 đồng, Dương Minh Q sử dụng 4.500.000 đồng, Dương Hoàng V sử dụng 7.000.000 đồng, Phạm Chí T sử dụng 11.000.000 đồng, Phan Thị Kim C sử dụng 4.700.000 đồng và Nguyễn Thị Kiều Mỹ L sử dụng 200.000 đồng tham gia đặt cược. Lúc này T tiếp tục tham gia đặt cược, H chưa thu tiền xâu.
Đến 15 giờ 30 phút cùng ngày, khi những đối tượng nêu tên trong ca hai đang tham gia đánh bạc thắng thu bằng tiền và những đối tượng nêu tên trong ca 1 vẫn còn đang có mặt tại sòng bạc thì Công an tỉnh Tây Ninh bắt quả tang thu giữ tại chiếu bạc gồm: 121.650.000 đồng, 01 tấm nhựa, 03 hột xí ngầu, 01 đĩa sành và 01 nắp nhựa, 01 viên gạch và 01 bình nhựa. Công an thu giữ trên người các đối tượng dùng đánh bạc 426.050.000 đồng gồm: H 1.600.000 đồng, Lê Minh Trường G 7.500.000 đồng, Nguyễn Thị Ch 150.000.000 đồng, Trần Thị Nhật L 400.000 đồng, T 9.500.000 đồng, Th 1.600.000 đồng, O 100.000 đồng, Đ 1.700.000 đồng, Đặng Thanh L 9.000.000 đồng, T 50.000 đồng, X 2.500.000 đồng, M 204.500.000 đồng, Dương Hoàng V 3.500.000 đồng, H 200.000 đồng, Nguyễn Trung G 1.000.000 đồng, Đào Thị L 600.000 đồng, C 2.800.000 đồng, C 4.400.000 đồng, Q 9.500.000 đồng, C 200.000 đồng, N 1.500.000 đồng, 1.500.000 đồng, P 100.000 đồng. Ngoài ra, Công an còn thu giữ của T 8.500.000 đồng, Phạm Văn N 400.000 đồng, L 3.400.000 đồng và một số vật chứng có liên quan. Riêng D, S, R, T, P, Đặng Hoài N, Nguyễn Văn T và Nguyễn Hồng Ch chạy thoát, sau đó đến Công an đầu thú.
Quá trình điều tra, Nguyễn Văn T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình.
Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng: Đã được xử lý trong Bản án số 47 ngày 11-5-2021 của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu.
Về kê biên tài sản: Qua xác minh T không có sở hữu tài sản nên Cơ quan điều tra không tiến hành kê biên.
Tại bản Cáo trạng số32/CT-VKSGD ngày 28 tháng 3 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyệnGò Dầu, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyệnGò Dầu giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Đánh bạc” và đề nghị xử phạt bị cáo mức án 03 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm.
Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Lời nói sau cùng của bị cáo:Bị cáo nhận thấy hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo rất ăn năn, hối hận, bị cáo xin Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo do bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyệnGò Dầu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyệnGò Dầu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, các vật chứng được thu giữ, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Cụ thể: Ngày 31/5/2020, tại ấp B, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh, Nguyễn Văn T làm cái lắc tài xỉu ca thứ 2 cho một số đối tượng tham gia đánh bạc đặt cược với tổng số tiền dùng đánh bạc là 361.050.000 đồng.
Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo biết rõ hành vi bị cáo là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo T đã thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội phạm của tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự.Xét vai trò của bị cáo T trong vụ án đánh bạc: Bị cáo T là người trực tiếp lắc tài xỉu, có vai trò tương đương với các bị cáo Nguyễn Thị Ch, Trần Thị Nhật L đã bị xét xử tại Bản án số 47/2021/HS-ST ngày 11/5/2021 của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu và Bản án số 120/2021/HS-PT ngày 10/9/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
Tình tiết tăng nặng: Không.
Tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã bỏ trốn, có quyết định truy nã nhưng đã ra đầu thú trước khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử nên bị cáo cũng được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Từ căn cứ nêu trên xét thấy việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyệnGò Dầu đối với bị cáo là có căn cứ. Đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo đã phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng khung hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo là người có nhân thân tốt (ngoài lần phạm tội này, bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú, nơi làm việc), bị cáo có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền có thể giám sát, giáo dục; Bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù.
Hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là người lao động tự do, không nghề nghiệp, không có thu nhập, không có tài sản. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Xử lý vật chứng: Toàn bộ vật chứng trong vụ án đã được xử lý tại Bản án số 47/2021/HS-ST ngày 11/5/2021 của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu và Bản án số 120/2021/HS-PT ngày 10/9/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1/ Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 03 (ba) năm tù, cho hưởng án treo, về tội “Đánh bạc”. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho Ủy ban nhân dân phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2/ Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3/ Án phí: Căn cứ vào Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4/ Quyền kháng cáo: Bị cáoNguyễn Văn T được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT. TANDTC (Vụ 1); - TAND Cấp cao tại TPHCM; - VKSND Cấp cao tại TPHCM; - Phòng kiểm tra nghiệp vụ TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND tỉnh Tây Ninh; - VKSND H. Gò Dầu; - Phòng PV 06 CA tỉnh Tây Ninh; - CA H. Gò Dầu; - NTG CA. H. Gò Dầu; - Phòng lý lịch Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh; - Chi cục THADS H. Gò Dầu; - Bị cáo; - Những người TGTT khác; - Lưu hồ sơ; - Lưu án văn; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thanh Vũ |