- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Văn Q - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hà Văn Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHĨA LỘ TỈNH YÊN BÁI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:46/2022/HS-ST Ngày 30 - 11 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂNTHỊ XÃ NGHĨA LỘ, TỈNH YÊN BÁI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Hoàng Thị Phú
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hà Văn Tý
2. Ông Hoàng Văn Vĩnh
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thúy Ngân -Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ tham gia phiên toà: Ông Hà Lập Phương- Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 11 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số:51/2022/HSST ngày 04 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2022/QĐXXST-HS ngày 16/11/2022 đối với bị cáo:
HÀ VĂN Q, sinh ngày 20/5/1996 tại thị xã N, tỉnh Yên Bái; trú tại: Tổ T, phường T, thị xã N, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn T và bà Hoàng Thị S (đã chết); vợ con chưa có; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 02/7/2022, tạm giam ngày 08/7/2022. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Yên Bái.“Có mặt”.
- Người bào chữa cho bị cáo Hà Văn Q: Luật sư Nguyễn Đức Đ - Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Yên Bái.“Có mặt”.
- Người làm chứng:
- Trần Quốc T, sinh năm 1992; trú tại: Thôn N, xã C, huyện V, tỉnh Yên Bái."Vắng mặt".
- Hoàng Cửu L, sinh năm 1995; trú tại: Tổ dân phố A, thị trấn nông trường T, huyện V, tỉnh Yên Bái."Vắng mặt".
- Cầm Ngọc Đ, sinh năm 1999; trú tại: Tổ T, phường T, thị xã N, tỉnh Yên Bái. "Vắng mặt".
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 16 giờ 40 phút, ngày 02/7/2022 tại khu vực gầm cầu T mới, thuộc tổ 6, phường C, thị xã N, tổ công tác của Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Yên Bái phối hợp với Công an phường C, thị xã N phát hiện Hà Văn Q đang đứng ở gầm cầu có biểu hiện nghi vấn về tội phạm ma túy. Nên đã tiến hành kiểm tra hành chính đối với Q. Quá trình kiểm tra Q tự giác lấy trong túi quần phía sau ra nộp gồm: 01 túi nilon màu trắng có khóa kẹp, bên trong có 04 túi nilon màu trắng, trong đó có 02 túi, mỗi túi đều chứa chất tinh thể màu trắng; 02 túi còn lại mỗi túi đều chứa 03 viên nén hình đa giác, một nửa mỗi viên đều giống nhau có màu cam, nửa còn lại màu xanh. Đồng thời Q tiếp tục lấy từ túi quần phía trước giao nộp 01 túi ni lon màu trắng bên trong có 03 túi nilon màu trắng, 01 gói bên trong chứa chất tinh thể màu trắng, 02 túi nilon còn lại đều chứa các mảnh vỡ của viên nén hình đa giác màu xanh. Ngoài ra còn thu giữ của Q số tiền 900.000 đồng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone; 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA biển kiểm soát 21L1-00789.
Hồi 18 giờ 30 phút và 19 giờ 20 phút cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Yên Bái khám xét khẩn cấp nơi ở, đồ vật của Q, Đ; Hồi 14 giờ 30 phút ngày 04/10/2022 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an khám xét khẩn cấp nơi ở đồ vật của Hoàng Thị Q. Kết quả khám xét đều không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa Quân khai nhận: Từ khoảng cuối tháng 5/2022 Q quen biết Hoàng Thị Q, sinh năm 2000, trú tại thôn T, xã P, thị xã N, qua nói chuyện Q biết Q có bán ma túy loại “Kẹo” và “Ke”. Q bảo bị cáo nếu có khách mua thì đến chỗ Q lấy bán để thu lợi nhuận và trao đổi số điện thoại với Q. Từ đầu tháng 6/2022 đến khi bị bắt quả tang bị cáo đã bán ma túy cho nhiều người, nhưng không nhớ cụ thể đã bán cho ai, được bao nhiêu tiền. Q chỉ xác định được 02 lần bán ma túy cho Hoàng Cửu L, sinh năm 1995 trú tại tổ dân phố A, thị trấn nông trường T, huyện V, tỉnh Yên Bái, cụ thể:
-Lần thứ nhất: Khoảng 21 giờ ngày 12/6/2022, L gọi điện thoại cho bị cáo để hỏi mua 01 chỉ “Ke” và 02 viên ma túy dạng “Kẹo”, bị cáo đồng ý, hẹn L đến khu vực cột đèn chân dốc đỏ, thị xã N để giao dịch mua bán, sau đó Q đi xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA biển kiểm soát 21L1-00789 đến nhà Hoàng Thị Q mua được ma túy như L đã đặt với giá 2.600.000 đồng, rồi mang đến chỗ hẹn bán cho L với giá 3.400.000 đồng. Khi L và bị cáo giao dịch mua bán, có Trần Quốc T đi cùng với L.
-Lần thứ hai: Khoảng 21 giờ ngày 24/6/2022 L gọi điện thoại cho bị cáo để hỏi mua 01 chỉ “Ke” và 02 viên ma túy dạng “Kẹo”, Q đồng ý, hẹn L đến khu vực cột đèn chân dốc đỏ, thị xã N để giao dịch mua bán, sau đó Q đi xe mô tô đến nhà Hoàng Thị Q mua được ma túy như L đã đặt với giá 2.600.000 đồng, rồi mang đến chỗ hẹn bán cho L với giá 3.400.000 đồng. Khi L và bị cáo giao dịch mua bán, có T đi cùng với L.
- Trưa ngày 02/7/2022, bị cáo mua của Hoàng Thị Q 02 loại ma túy “Ke” và “Kẹo” hết 1.600.000 đồng để nếu có khách hỏi mua thì bán. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, Q nhận được điện thoại của một người đặt mua một chỉ ma túy dạng Ke và 06 viên ma túy dạng Kẹo do không có sẵn ma túy nên Q đã đến nhà Q lấy ma túy cho khách, tiền lấy ma túy của Q, bị cáo còn nợ lại, khi ra đến gầm cầu T, Q dừng lại nghe điện thoại của khách đặt mua ma túy trước đó thì bị kiểm tra và bắt giữ cùng toàn bộ vật chứng.
Tại cơ quan điều tra L, T khai nhận, họ đều là nghiện chất ma túy, cả 2 lần đều do L gọi điện cho Q hỏi mua ma túy, sau đó L và T cùng góp tiền để mua chung, nhưng việc giao dịch mua bán chỉ do một mình L thực hiện, bị cáo không biết việc L và T góp tiền, sau khi mua được ma túy cả hai mang đến một ngôi nhà bỏ hoang ở khu vực ngã ba, xã C, huyện V để sử dụng.
Lời khai của Hoàng Cửu L, Trần Quốc T phù hợp với lời khai của bị cáo.
Tại kết luận giám định số:384/GĐMT ngày 11/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái kết luận:
+ Chất bột màu trắng thu giữ của bị cáo trong túi nilon thứ nhất có tổng khối lượng là 0,79 gam; 0,09 gam trích từ 0,79 gam chất tinh thể màu trắnggửi giám định là ma túy, loại Ketamine.
+ Các viên nén hình đa giác một mặt màu xanh, một mặt màu cam, thu giữ của bị cáo trong túi nilon màu trắng thứ nhất có tổng khối lượng là 2,08 gam; 1,01 gam trích từ 2,08 gam chất tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, loại MDMA.
+ Chất bột màu trắng thu giữ của bị cáo trong túi nilon thứ hai có tổng khối lượng là 0,35 gam; 0,1 gam trích từ 0,35 gam chất tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Ketamine.
+ Các mảnh vỡ của viên nén màu xanh, thu giữ của bị cáo trong túi nilon màu trắng thứ hai có tổng khối lượng là 0,66 gam; 0,2 gam trích từ 0,66 gam chất tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, loại MDMA.
Kết luận giám định số: 383/KLGĐ ngày 09/7/2022của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái kết luận: Tổng số tiền 900.000 đồng gửi giám định đều là tiền do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành.
Cáo trạng số 42/CT-VKS-NL ngày 02/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ truy tố Hà Văn Q về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo tự thú và thành khẩn khai báo, quy định tại các điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa,
* Kiểm sát viên trình bày lời luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt chính: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; các điểm r, s khoản 1 Điều 51của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm 06 tháng tù.
- Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
+ Tịch thu tiêu hủy 0,95 gam Ketamine; 1,53 gam MDMA; 02 vỏ phong bì đã mở niêm phong, các mảnh nilon.
+ Tịch thu của Hà Văn Quân 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone và xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA biển kiểm soát 21L1-00789 để nộp ngân sách Nhà nước.
+ Trả lại cho bị cáo số tiền 900.000 đồng.
+ Tịch thu của bị cáo số tiền 6.800.000 đồng do phạm tội mà có.
- Về án phí và quyền kháng cáo: Đề nghị tuyên theo quy định của pháp luật;
*Bị cáo không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát, thành khẩn khai báo và nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.
* Người bào chữa trình bày luận cứ bào chữa, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; các điểm r, s khoản 1Điều 51của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Hà Văn Q mức thấp nhất của khung phạt về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo là người dân tộc thiểu số, thuộc hộ nghèo nên đề nghị không áp hình phạt bổ sung là phạt tiền và miễn án phí cho bị cáo. Đề nghị xem xét trả lại chiếc xe mô tô cho bị cáo vì là phương tiện để bị cáo sử dụng đi chở hàng thuê, kiếm sống hàng ngày và hiện đang còn nợ tiền vay của Ngân hàng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sátđiều tra Công an Công an thị xã Nghĩa Lộ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đối với bị cáo Hà Văn Q đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáokhông có ý kiến và không khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong việcđiều tra, truy tố bị cáo đều hợp pháp.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:
Lời khai của bị cáo tại phiên toà ngày hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người làm chứng Hoàng Cửu L và Trần Quốc T cùng các tài liệu,chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Thể hiện,do hám lợi bất chính nên Q đã nhiều lần mua ma túy của Hoàng Thị Q, trú tại thôn T, xã P, thị xã N và bán lại kiếm lời cho nhiều người. Trong các ngày 12 và 24 tháng 6/2022, bị cáo đã 02 lần bán ma túy cho cho L, thu được số tiền là 6.800.000 đồng.
Ngày 02/7/2022 bị cáo đang mang ma túy với mục đích để bán thì bị bắt quả tang. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 1,14 gam ma túy, loại Ketamine và 2,74 gam ma túy, loại MDMA.
Xét tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, bị cáo Q là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc Mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vì hám lợi bất chính, muốn có tiền tiêu sài nên bị cáo cố ý thực hiện tội phạm. Từ những căn cứ nêu trên đã có đủ cơ sở khảng định hành vi mà bị cáo Q thực hiện đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:Không
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:Bị cáo Tự thú và thành khẩn khai báotheo quy định tại các điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Về nhân thân:
Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, nhưng vì hám lợi nên đã mua bán trái phép ma túy nhiều lần, thể hiện là người có nhân thân không tốt.
Từ những nhận xét, đánh giá về tính chất, mức độ gây nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy rằng cần thiết phải xử lý bị cáo một cách nghiêm minh, với mức hình phạt tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện; buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại Trại giam để cải tạo giáo dục bị cáo, đồng thời góp phần răn đe, phòng ngừa và trấn áp tội phạm về ma túy trong giai đoạn hiện nay.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là hộ nghèo, không có tài sản riêng. Vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ:
- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA biển kiểm soát 21L1-00789 và 01 chiếc điện thoại di động Iphone, bị cáo đã sử dụng để làm phương tiện thực hiện việc mua bán trái phép ma túy, nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- Đối với 1,14 gam Ketamine và 2,74 gam MDMA thu giữ khi bắt quả tang bị cáo Q. Đã lấy ra 0,19 gam Ketamine và 1,21 gam MDMA làm mẫu vật gửi giám định, còn lại 0,95 gam Ketamine và 1,53 gam MDMA cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- Đối với 02 vỏ phong bì sau khi mở niêm phong, các mảnh nilon không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- Đối với số tiền 900.000 đồng thu giữ của Q, không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho bị cáo.
- Trong hai ngày 12 và 24/6/2022 bị cáo bán ma túy cho Hoàng Cửu L được số tiền 6.800.000 đồng, cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
Trong vụ án này có Hoàng Thị Q, theo lời khai của Q là người đã nhiều lần bán ma túy cho Q, cơ quan Cảnh sát điều tra đã nhiều lần triệu tập, nhưng Q vắng mặt tại địa phương nên chưa có cơ sở làm rõ. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy tìm Hoàng Thị Q và tiếp tục xác minh khi có căn cứ sẽ xử lý sau là phù hợp.
Đối với hành vi của L và T không cấu thành tội phạm nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã chuyển tài liệu đến Công an xã C, huyện V để ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với họ là phù hợp.
Đối với Cầm Ngọc Đ là người mà ngay sau khi bị bắt bị cáo đã khai: Đ là người đã bán ma túy cho Q; Q và Đ có thỏa thuận việc Đ tìm khách mua ma túy để Q bán, Cơ quan điều tra đã khám xét nơi ở đồ vật của Đ không thu giữ được tài liệu, đồ vật gì có liên quan đến vụ án. Tại cơ quan Điều tra Đ không thừa nhận nội dung Q khai báo, ngày 14/10/2022 Cơ quan cảnh sát điều tra tiến hành đối chất giữa 2 bên, Hà Văn Q khai nhận việc mua bán ma túy thực tế là do một mình bị cáo thực hiện, không liên quan đến Đ, do đó không đủ cơ sở kết luận Cầm Ngọc Đ liên quan đến vụ án.
Đối với những người đã mua ma túy trước đó của Hà Văn Q, nhưng bị cáo không nhớ tên, địa chỉ cụ thể của họ nên không có đủ cơ sở để điều tra làm rõ.
Về án phí: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hà Văn Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
[2] Về hình phạt: Áp dụng điểm bkhoản 2 Điều 251;các điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hà Văn Q 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/7/2022.
[3] Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ:Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy 0,95 gam Ketamine và 1,53 gam MDMA;02 vỏ phong bì đã mở niêm phong, các mảnh nilon.
- Tịch thu của bị cáo 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone vàchiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA biển kiểm soát 21L1-00789 để nộp ngân sáchNhà nước.
- Trả lại cho bị cáo số tiền 900.000 đồng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, và biên bản giao nhận tài sản ngày 03/11/2022 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thị xã N và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã N).
- Tịch thu của bị cáo số tiền 6.800.000 đồng để nộp ngân sách Nhà nước.
[4] Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng ¸án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo được miễn án phí Hình sự sơ thẩm.
[5] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a và 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Yên Bái; - VKSND thị xã Nghĩa Lộ; - VKSND tỉnh Yên Bái; - THA hình sự; - CCTHA dân sự thị xã Nghĩa Lộ; - CA thị xã Nghĩa Lộ; - Bị cáo; - Sở tư pháp tỉnh Yên Bái; - UBND phường T(thông báo); - Chi cục Hải quan; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Hoàng Thị Phú |